Dân Hà Nội gánh hơn 2.000 đồng chi phí lãi vay/m3 nước cho chủ Nhà máy nước mặt Sông Đuống

Nhàđầutư
Giải thích vì sao giá nước sạch Sông Đuống cao hơn Sông Đà, Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội cho biết, riêng chi phí lãi vay chiếm 20% giá nước, tương đương 2.103 đồng/m3.
NGUYỄN THOAN - QUANG DÂN
12, Tháng 11, 2019 | 20:13

Nhàđầutư
Giải thích vì sao giá nước sạch Sông Đuống cao hơn Sông Đà, Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội cho biết, riêng chi phí lãi vay chiếm 20% giá nước, tương đương 2.103 đồng/m3.

Tại cuộc họp báo Thành ủy Hà Nội chiều ngày  12/11, trả lời về vấn đề cơ sở tính giá nước sạch của Nhà máy nước sạch Sông Đuống và tỷ suất lợi nhuận mà thành phố cam kết chi trả cho nhà đầu tư, ông Nguyễn Việt Hà, Giám đốc Sở Tài chính TP. Hà Nội cho biết, cho tới thời điểm hiện tại, giá nước sạch của nhà nước mặt Sông Đuống mới chỉ là giá tạm tính và tỷ suất lợi nhuận mà thành phố cam kết cho nhà đầu tư là 5%.

Giá bán buôn là 7.700 đồng/m3 chứ không phải là 10.246 đồng/m3

Ông Nguyễn Việt Hà cho biết, theo văn bản số 3310 năm 2017, TP. Hà Nội chấp thuận giá nước sạch tạm tính tối đa là 10.246 đồng/m3 và lộ trình tăng giá tối đa là 7%/năm, không vượt khung quy định của Bộ Tài chính chính về giá nước sạch.

Việc thoả thuận giữa TP. Hà Nội và Nhà máy nước mặt Sông Đuống được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án. Nên thành phố dựa trên cơ sở đề xuất của nhà đầu tư với mức giá tối đa mà nhà đầu tư tính toán.

ong-ha

Ông Nguyễn Việt Hà, Giám đốc Sở Tài chính, TP. Hà Nội

Về căn cứ tính toán thế nào để xác định giá tạm tính tối đa, ông Hà chia sẻ, thứ nhất là theo Nghị định 117 của Chính phủ quy định: giá nước sạch là giá đã tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất, giá thành toàn bộ quá trình phân phối, tiêu thụ được cơ quan có thẩm quyền công bố và có mức lợi nhuận hợp lý cho nhà đầu tư.

Tuy nhiên, tại năm 2017 là thời điểm mới chuẩn bị dự án, mà muốn theo quy định tính đúng, tính đủ thì dự án phải hoàn thành, đi vào hoạt động và được quyết toán.

Vì vậy, thành phố và nhà đầu tư đã phải ký thoả thuận trên cơ sở các nguyên tắc:

Đối với hao phí tính toán được dựa trên quyết định 590 năm 2014 của Bộ Xây dựng liên quan tới nước sạch.

Với chi phí khấu hao thực hiện trên tổng mức đầu tư thực hiện theo quyết định 2869 năm 2016 của UBND TP. Hà Nội.

Chi phí bảo dưỡng tính theo Thông tư 03 của Bộ xây dựng.

Chi phí quản lý doanh nghiệp tạm tính là 5% (thấp nhất trong các doanh nghiệp hiện nay).

Chi phí bán hàng tạm tính là 1%.

Tỷ lệ thất thoát, theo quy định đến 2020 tối đa là 18%, tại thời điểm hiện tại công ty chưa đưa vào hoạt động nên đề xuất là 8,4%.

Lợi nhuận định mức xác định theo mức tối thiểu là 5%.

Trên nguyên tắc tính toán trên (theo Thông tư số 75 năm 2012 của Liên Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) đã tính ra mức giá 10.246 đồng/m3. Đây được cho là mức tạm tính tối đa. Còn cụ thể là sau khi  nhà máy đi vào hoạt động sẽ có tính toán chính thức. Lộ trình điều chỉnh giá hàng năm là 7%/năm.

Về vấn đề chênh lệch giá bán buôn với giá bán lẻ, cụ thể là giá bản lẻ thấp hơn giá bán buôn, lo ngại ngân sách phải bù giá, ông Hà cho biết, giá bán buôn thường là do đơn vị bán buôn và bán lẻ tự thoả thuận, xác định.  

Tuy nhiên, với mức giá 10.246 đồng/m2 của Nhà máy nước mặt Sông Đuống bị cho là quá cao, nên vừa qua Sở Tài chính có đứng ra hiệp thương cho Nhà máy nước mặt Sông Đuống và Công ty nước sạch Hà Nội và Công ty nước sạch số 2.

Theo báo cáo giá bán lẻ bình quân của Công ty nước sạch Hà Nội là 9.121 đồng/m3, trừ đi hao hụt còn 7.947 đồng/m3, giá bán lẻ Công ty nước sạch số 2 là 9.485 đồng/m3, trừ đi hao hụt là 7.722 đồng/m3. Trên nguyên tắc giá bán buôn không được cao hơn giá bán lẻ, hiệp thương tạm tính là 7.700 đồng/m3. Theo đó, Nhà máy nước mặt Sông Đuống sẽ thực hiện bán buôn cho các đơn vị bán lẻ với giá 7.700 đồng/m3.

Về lo ngại bù lỗ cho doanh nghiệp, ông Hà thông tin, theo Nghị định 117 và Thông tư 75, nếu giá nước sạch được quyết định thấp hơn giá theo phương án tính đúng tính đủ, thành phố sẽ cấp bù từ ngân sách địa phương để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đơn vị cấp nước.

Lãi suất nhà đầu tư đi vay được tính vào giá bán nước sạch 2.103 đồng/m3

Hải thích vì sao giá nước sạch Sông Đuống đắt gấp đôi giá nước sạch từ Nhà máy nước Sông Đà, ông Hà cho biết, nguyên tắc tính giá đối với các đơn vị là giống nhau, đều được xác định theo Nghị định 117 và Thông tư 75. Tuy nhiên, giữa các nhà máy có các yếu tố khác nhau nên giá thành cũng khác nhau.

Đầu tiên là công nghệ khác nhau sẽ làm suất đầu tư giữa các nhà máy khác nhau. Cụ thể, Nhà máy nước Sông Đà đi vào hoạt động năm 2009, nguyên giá tài sản được đưa vào tính khấu hao chỉ là 1.555 tỷ; còn Nhà máy nước Sông Đuống trong quyết định phê duyệt đầu tư là 4.998 tỷ. Quy mô đầu tư/suất đầu tư khác nhau sẽ dẫn tới giá thành khác nhau.

Các chi phí chính để tính giá thành nước sạch ở 2 đơn vị cũng khác nhau. Đầu tiên là lãi vay. Nhà máy nước mặt Sông Đuống đi vay 80%, tương ứng với khoảng gần 3.900 tỷ đồng.

“Khi chưa đi vào vận hành, lãi vay sẽ tính vào giá thành đầu tư, còn sau khi dự án đi vào hoạt động lãi vay sẽ được tính vào giá thành nước sạch”, ông Hà nói.

Theo tính toán của Nhà máy nước mặt Sông Đuống, riêng chi phí lãi vay chiếm 20% giá nước (khoảng 2.103 đồng/m3). So với Nhà máy nước sạch Sông Đà, đến thời điểm hiện nay, Sông Đà chỉ phải trả lãi vay trong 5 năm còn lại của dự án.

Yếu tố thứ 2 ảnh hưởng tới giá thành là khấu hao tài sản cố định, bên Sông Đà tổng mức đầu tư là hơn 1.500 tỷ, còn Sông Đuống thì gần 5.000 tỷ. Tổng mức đầu tư lớn hơn thì chi phí khấu hao cũng sẽ lớn hơn. Theo tính toán của Nhà máy nước mặt Sông Đuống, chi phí này chiếm khoảng 20% giá nước (khoảng 2.100 đồng/m3).

Thứ 3, vẫn theo ông Hà, là vấn đề xử lý nước. Nước Sông Đà được dẫn từ hồ  tự nhiên Đồng Bài, còn nước Sông Đuống phải bơm vào hồ lắng phía trong để xử lý nước và xử lý bùn thải. Cùng với đó là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp do chất lượng nguồn nước thô khác nhau. Và 2 chi phí này cũng chiếm khoảng 20% giá thành nước sạch.

  • Chia sẻ
  • Bình luận
    0
Bạn nghĩ sao?
Click vào nút dưới đây để bình luận về bài viết này.
Hiển thị nhận xét
Sàn
VN-Index
966,06 +2,50 / +0,26%
Lúc 09/12/2019 15:59:56
Cao nhất
06/11/2019
1023,42
Thấp nhất
04/01/2019
861,85
 
Giao dịch hôm nay
SLGD: 378
KLGD: 273.262.818
GTGD: 4,92 triệu
Sàn
HNX-Index
102,36 -0,14 / -0,14%
Lúc 09/12/2019 15:59:56
Cao nhất
18/03/2019
110,44
Thấp nhất
15/01/2019
98,71
 
Giao dịch hôm nay
SLGD: 200
KLGD: 21.256.855
GTGD: 250.531,00
Sàn
UPCOM-Index
55,79 -0,13 / -0,23%
Lúc 09/12/2019 15:59:56
Cao nhất
25/07/2019
58,90
Thấp nhất
25/12/2018
51,11
 
Giao dịch hôm nay
SLGD: 299
KLGD: 5.799.501
GTGD: 124.393,00

Nguồn: VPBS