Kiểm soát dịch chuyển dòng vốn FDI - Bài 6: Nhật Bản hạn chế đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực y tế

Nhàđầutư
Trong bối cảnh lo ngại về việc mua lại các công ty gặp khó khăn và tài sản chiến lược trong cuộc khủng hoảng COVID‑19, ngày càng có nhiều quốc gia tăng cường sàng lọc đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các công ty nội địa, đặc biệt là trong ngành y tế và chăm sóc sức khỏe.
THANH TRẦN
02, Tháng 07, 2020 | 07:06

Nhàđầutư
Trong bối cảnh lo ngại về việc mua lại các công ty gặp khó khăn và tài sản chiến lược trong cuộc khủng hoảng COVID‑19, ngày càng có nhiều quốc gia tăng cường sàng lọc đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các công ty nội địa, đặc biệt là trong ngành y tế và chăm sóc sức khỏe.

6.-Avatar-Tokyo-1-1170x780

Chính phủ Nhật Bản đang siết chặt quy tắc FDI trong bối cảnh COVID-19 nhằm bảo vệ doanh nghiệp nội địa.

Hạn chế và kiểm soát đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực y tế

Những hạn chế này có xu hướng nhắm mục tiêu vào các nhà đầu tư cơ hội của Trung Quốc. Và tất nhiên, Nhật Bản cũng không ngoại lệ. Vào đầu tháng 5/2020, Nikkei báo cáo rằng chính phủ Nhật Bản dường như đang chuyển sang hướng bổ sung các doanh nghiệp y tế và sản xuất thiết bị y tế tiên tiến vào danh sách các ngành được coi là quan trọng đối với an ninh quốc gia, theo Đạo luật Ngoại hối và Ngoại thương sửa đổi (FEFTA).

Trong lĩnh vực y tế, Tokyo sẽ liệt kê các doanh nghiệp điều trị và ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm vào danh sách các ngành được chỉ định. Việc phân loại sẽ bao gồm các công ty xử lý nguyên liệu thô, dược phẩm, vaccine, huyết thanh và công thức.

Trong khi đó, đối với phân khúc thiết bị y tế, các nhà sản xuất các sản phẩm khó sản xuất hoặc có ít lựa chọn thay thế khi một bệnh truyền nhiễm lây lan trên toàn cầu cũng sẽ được đưa vào danh sách này. Nó sẽ bao gồm các nhà sản xuất máy thở, máy trợ tim, máy bơm truyền và máy lọc máu nhân tạo.

Việc bổ sung các lĩnh vực liên quan đến y tế vào danh sách này sẽ khiến quá trình rà soát vốn FDI ở các công ty y tế Nhật Bản nghiêm ngặt hơn. Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài đang tìm cách đầu tư hoặc tăng cổ phần của họ vào các công ty y tế Nhật Bản nên chú ý các sửa đổi được đề xuất và tham khảo ý kiến ​​các chuyên gia FDI có kinh nghiệm để giúp điều hướng các vấn đề pháp lý đầy thách thức này.

Việc chỉ định các lĩnh vực quan trọng đối với an ninh quốc gia là một phần của các biện pháp kiểm soát FDI được thi hành theo FEFTA sửa đổi. Trước đó, Nội các Nhật Bản đã phê chuẩn Dự luật sửa đổi Đạo luật nhằm tăng cường đánh giá FDI trong một số lĩnh vực kinh doanh nhất định.

Theo Đạo luật sửa đổi, đầu tư nước ngoài vào các công ty trong danh sách các lĩnh vực quan trọng sẽ phải tuân theo yêu cầu và cần đưa ra thông báo trước. Hiện tại, chính phủ Nhật Bản có thể đình chỉ, hoặc sửa đổi các giao dịch, do đó các nhà đầu tư cần có được sự chấp thuận từ Bộ Tài chính (MOF) và các bộ liên quan có thẩm quyền đối với các giao dịch nước ngoài liên quan đến các khoản đầu tư dự định của họ.

Trong bối cảnh đầu tư cơ hội do khủng hoảng COVID-19, mối lo ngại về đầu tư nước ngoài vào các ngành liên quan đến y tế của Nhật Bản tiếp tục gia tăng do tình trạng thiếu nguồn cung y tế và cạnh tranh lợi ích trong cuộc đua phát triển vaccine.

Được biết, kế hoạch của chính phủ Nhật đối với các lĩnh vực liên quan đến y tế theo FEFTA sửa đổi nhằm mục đích: (i) đảm bảo nguồn cung cấp dược phẩm và thiết bị y tế ổn định cho sức khỏe và an ninh của công dân Nhật Bản và (ii) bảo vệ các công ty dược phẩm và thiết bị y tế tiên tiến của Nhật Bản, ngăn chặn việc mua lại từ các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là bởi người mua Trung Quốc.

Chính sách sàng lọc đầu tư nước ngoài của chính phủ Nhật Bản

Nhìn chung, FEFTA yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các công ty Nhật Bản phải gửi thông báo đầu tư cho MOF và các cơ quan liên quan có thẩm quyền. Nếu giao dịch liên quan đến đầu tư vào một số lĩnh vực kinh doanh nhất định liên quan đến (i) an ninh quốc gia, (ii) trật tự công cộng, (iii) an toàn công cộng và (iv) ngành kinh doanh được chỉ định, nhà đầu tư nước ngoài cũng phải gửi thông báo trước về khoản đầu tư dự định để đạt được sự chấp thuận theo quy định, trừ khi được FEFTA miễn trừ.

Các bên tham gia giao dịch cũng phải tuân thủ thời gian chờ đợi theo luật định là 30 ngày trước khi họ hoàn thành giao dịch, bắt đầu từ ngày chấp nhận thông báo. Trên thực tế, giai đoạn này thường được rút ngắn xuống còn hai tuần nếu MOF và các bộ liên quan không nêu ra bất kỳ vấn đề pháp lý nào.

Nếu MOF và các cơ quan nhận thấy rằng khoản đầu tư dự định có rủi ro đối với các cân nhắc đã nói ở trên, họ có thể ra lệnh đình chỉ hoặc sửa đổi khoản đầu tư. Nếu nhà đầu tư nước ngoài không tuân thủ các yêu cầu thông báo trước hoặc thời gian chờ bắt buộc hoặc đưa ra bất kỳ tuyên bố sai mục đích nào trong khi nộp đơn, MOF và các cơ quan có liên quan, cũng có thẩm quyền ra lệnh đình chỉ, cấm hoặc bất kỳ biện pháp khắc phục nào mà họ cho là phù hợp.

Trước khi sửa đổi gần đây nhất về FEFTA, cơ quan lập pháp Nhật Bản đã thông qua hai sửa đổi đối với FEFTA để thắt chặt các quy định xem xét đầu tư nước ngoài. Lần sửa đổi đầu tiên, đã bổ sung 20 loại hình doanh nghiệp là ngành kinh doanh được chỉ định, tập trung rõ ràng vào các doanh nghiệp phần mềm, viễn thông và xử lý thông tin.

Lần sửa đổi thứ hai, đã mở rộng các loại hoạt động liên quan đến đầu tư nước ngoài được xác định là đầu tư trực tiếp hoặc một hành động tương đương, theo FEFTA. Sau lần sửa đổi thứ hai, việc mua lại từ 10% cổ phần trở lên của một công ty niêm yết cũng cần yêu cầu thông báo trước, trong khi ngưỡng sàng lọc ban đầu chỉ được đo bằng quyền sở hữu kinh tế.

Trong khi đã đưa ra một số miễn trừ cho các tổ chức tài chính nước ngoài mua cổ phiếu chỉ cho mục đích quản lý danh mục đầu tư, bản sửa đổi luật đầu tư vẫn thu hút sự chỉ trích từ các nhà đầu tư nước ngoài.

Những nhà đầu tư nước ngoài đã bày tỏ lo ngại về sự mơ hồ của các tiêu chí miễn trừ, cho rằng chế độ thắt chặt FDI không chỉ đi ngược lại các cải cách quản trị doanh nghiệp do Thủ tướng Abe đề ra, mà còn gây ra các tác động tiêu cực đến đầu tư nước ngoài vào Nhật Bản.

  • Chia sẻ
  • Bình luận
    0
Bạn nghĩ sao?
Click vào nút dưới đây để bình luận về bài viết này.
Hiển thị nhận xét
Sàn
VN-Index
841,46 +1,42 / +0,17%
Lúc 07/08/2020 15:59:00
Cao nhất
06/11/2019
1023,42
Thấp nhất
31/03/2020
649,10
 
Giao dịch hôm nay
SLGD: 375
KLGD: 259.884.838
GTGD: 4,56 triệu
Sàn
HNX-Index
112,75 -0,60 / -0,53%
Lúc 07/08/2020 15:59:00
Cao nhất
09/06/2020
118,88
Thấp nhất
01/04/2020
89,70
 
Giao dịch hôm nay
SLGD: 192
KLGD: 34.143.072
GTGD: 364.448,00
Sàn
UPCOM-Index
56,22 +0,10 / +0,18%
Lúc 07/08/2020 15:59:00
Cao nhất
28/08/2019
57,91
Thấp nhất
23/03/2020
47,41
 
Giao dịch hôm nay
SLGD: 310
KLGD: 21.504.655
GTGD: 225.971,00

Nguồn: VPBS

Điều chỉnh kích thước chữ