Tại sao Việt Nam nên cẩn trọng với nới lỏng tiền tệ và bài toán cân đối chính sách khắc phục hậu quả Covid-19?

PHƯƠNG S - TUẤN MARK-HƯƠNG XUÂN
09:49 25/02/2020

“Cần phải đánh giá dư địa chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Chúng ta vẫn cần cân nhắc dự phòng dư địa này nhằm tiếp tục ứng phó với những kịch bản, biến động kinh tế khác”, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng ban Nghiên cứu Tổng hợp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM).

nguyen-anh-duong

Ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng ban Nghiên cứu Tổng hợp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)

Nhiều phân tích đã được đưa ra để nói rằng kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam bị tác động tiêu cực vì dịch Covid-19. Theo ông, để giảm thiểu những tác động do dịch bệnh gây ra, những việc cần làm là gì?

Trong thời gian qua, chúng ta đã thấy những báo cáo về tình hình kinh tế xã hội liên quan đến các vấn đề mới phát sinh, trong đó có cả dịch Covid-19. Những thông tin này tương đối dày và đa chiều, bao gồm cả đánh giá tác động nhìn từ phía Chính phủ, doanh nghiệp và những kiến nghị chính sách.

Tôi cho rằng cần lưu ý để phân biệt những chính sách nào thực sự mới, liên quan đến ứng phó với dịch Covid-19, chính sách nào đã và đang thực hiện nhằm xử lý những vấn đề căn bản của nền kinh tế. Dịch Covid-19 không thể khiến chúng ta xao nhãng, thay vào đó, cần thực thi chính sách nghiêm túc, nhanh nhạy và hiệu quả hơn. Đó là yêu cầu rất quan trọng.

Với dịch Covid-19, yếu tố quan trọng nhất theo tôi là chính sách liên quan đến thông tin. Thông tin ở đây một mặt cân đối được tính chính xác, đầy đủ, một mặt phải tạo cho người dân, thị trường tâm lý yên tâm, tránh tâm lý phản ứng thái quá.

Nếu chúng ta có thể tiếp tục cách làm như thế này với truyền thông, hiệu quả xử lý những tác động của dịch bệnh có thể đi theo hướng tích cực, ít bị vướng vào những vấn đề do chịu ảnh hưởng tâm lý thị trường.

Bản thân những thông tin đấy cần nhìn dịch bệnh một cách đầy đủ. Chẳng hạn, diễn biến dịch bệnh có thể dẫn tới những hoạt động kinh tế mới, một số ngành mới xuất hiện, như tư vấn vệ sinh phòng dịch cho doanh nghiệp, v.v...

Tư duy ở đây là phải hướng vào xử lý vấn đề dịch bệnh nói chung, đồng thời tạo được điều kiện cho các ngành mới đó phát triển một cách lành mạnh, tránh phát triển chộp giật.

Vậy kiến nghị cụ thể cho Chính phủ của ông như thế nào?

Đầu tiên là tiếp tục theo dõi, có những đánh giá cụ thể, chi tiết tình hình ở trong và ngoài nước. Ví dụ ở trong nước, các địa phương, các nhóm ngành nghề, nhóm doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của dịch bệnh như thế nào. Thậm chí, cần phân tích đến các nhóm xã hội ở các độ tuổi khác nhau.

Mỗi nhóm sẽ phải cần những chính sách khác nhau; nếu không có đánh giá chi tiết, sẽ rất khó cho Chính phủ đề ra các kế hoạch hành động đủ, kịp thời, và có khả năng đi vào cuộc sống.

Thứ hai, Chính phủ cần thường xuyên đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, người dân để cung cấp đầy đủ thông tin cho họ. Điều này giúp cho toàn xã hội bình tĩnh đối phó dịch bệnh. Ngược lại, sự an tâm của người dân, doanh nghiệp sẽ giúp Chính phủ thuận lợi hơn trong việc thực thi các chính sách.

Song song với việc cung cấp thông tin, qua đối thoại, Chính phủ có thể lắng nghe thêm thực trạng của các doanh nghiệp trong mùa dịch, các vấn đề phát sinh mà doanh nghiệp gặp phải, từ đó làm cơ sở để tháo gỡ khó khăn.

Chính phủ cũng nên cân nhắc việc chủ động đứng ra làm kênh kết nối thông tin giữa các nhóm doanh nghiệp lại với nhau. Trước nay, khi nói đến đối thoại, chúng ta chủ yếu chỉ có Chính phủ với doanh nghiệp, còn nay, phải tính đến cả doanh nghiệp với doanh nghiệp.

Điều này giúp cộng đồng doanh nghiệp có những bước phối hợp và chia sẻ với nhau. Thực tế cho thấy không phải doanh nghiệp nào cũng gặp bất lợi về Covid-19, hay trong nhóm gặp bất lợi thì mức độ thiệt hại cũng không giống nhau. Do đó, nếu không được thông tin, nhiều khả năng các doanh nghiệp sẽ kiến nghị lên những chính sách chung chung. Các nhà hoạch định sẽ khó để xác định liều lượng, thời điểm ban hành chính sách một cách cụ thể.

Thứ ba, Chính phủ nên xem xét cẩn trọng các chính sách có thể sử dụng vừa chống được dịch, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.

Ví dụ nói đến thông quan xuất nhập khẩu, yêu cầu đặt ra là vừa đối phó, đảm bảo được chất lượng hàng hóa, phòng tránh dịch bệnh nhưng không tạo ra những chi phí bất hợp lý về thời gian, tiền bạc cho doanh nghiệp. Nói gì thì nói, cộng đồng doanh nghiệp phải có sức sống, phải phát triển được, sau đó mới tính đến yếu tố bền vững của cả nền kinh tế.

Các chính sách hỗ trợ kinh tế khi đặt ra cần phải cân nhắc thấu đáo về thời điểm, liều lượng cũng như phạm vi.

Dịch Covid-19 đã khiến nhiều nước trong khu vực xem xét đến việc nới lỏng tiền tệ. Theo ông, Việt Nam có nên tính đến biện pháp này không?

Nghiên cứu biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ luôn là cần thiết trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Nhưng với Việt Nam, cần phải cân nhắc thêm về thời điểm áp dụng chính sách này.

Thứ nhất, phải đánh giá cẩn trọng mức độ thiệt hại ở hiện tại và tương lai của Covid-19 với nền kinh tế trong nước. Từ đó chúng ta mới ước tính được nhu cầu hỗ trợ hoặc nới lỏng chính sách tiền tệ đến đâu.

Thứ hai, trên thực tế, cộng đồng doanh nghiệp đã kiến nghị không ít giải pháp trong nhiều năm nhưng vì nhiều điều kiện, lý do mà chưa thực hiện được. Ví dụ như hạ lãi suất cho vay cho doanh nghiệp.

Những năm vừa qua, mặt bằng chi phí lãi vay cho sản xuất – kinh doanh có giảm, nhưng tôi nhận thấy mức độ giảm chưa tương xứng với kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp. Do đó, trước khi thực hiện nới lỏng tiền tệ, nếu chúng ta có được giải pháp hiệu quả nhằm giảm chi phí lãi vay cho doanh nghiệp thì ý nghĩa sẽ rất tích cực.

Ngoài ra, cần cân nhắc về thời điểm của gói hỗ trợ. Thời điểm đó phải phụ thuộc vào đánh giá triển vọng trong thời gian tới như thế nào. Ví dụ Chính phủ nhận định triển vọng kinh tế không có quá nhiều bất định, việc hỗ trợ có thể sẽ vẫn cần thiết nhưng phải được tính toán dựa trên đánh giá mức độ thiệt hại cụ thể.

Mặt khác, chúng ta cũng cần xem xét dư địa chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Dù có nhiều cải thiện trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam vẫn cần cân nhắc dự phòng dư địa này để tiếp tục ứng phó với những kịch bản, biến động kinh tế khác trong thời gian tới.

Vì vậy, quan điểm của tôi là khi cân nhắc sử dụng biện pháp nới lỏng tiền tệ, cần những đánh giá thực sự chặt chẽ, thấu đáo.

Nhiều doanh nghiệp cũng đề cập đến việc giảm thuế, giãn nợ cho các doanh nghiệp bị tác động bởi dịch bệnh, quan điểm của ông với đề xuất này?

Giảm thuế, giãn nợ là những đề xuất được đặt ra rất nhiều lần - ngay cả khi chưa có dịch bệnh - nhằm hỗ trợ cho cộng đồng doanh nghiệp phát triển. Dù vậy, thời gian vừa qua, rõ ràng rất ít đề xuất liên quan đến giảm thuế được xem xét, chứ chưa nói đến việc thực hiện. Việt Nam hướng đến giảm thâm hụt ngân sách nhưng chi ngân sách vẫn còn cao, do vậy, áp lực tăng thu vẫn còn hiện hữu.

Đặt trong bối cảnh trước đây, kiến nghị giảm thuế đã phù hợp rồi. Còn trong hoàn cảnh mới, bức xúc đặt ra cho nền kinh tế là trong ngắn hạn, đòi hỏi hành động nhanh hơn. Nếu chính sách này là cần thiết thì phải cân nhắc thực thi nhanh hơn, kể cả trong ngắn hạn. Và khi giãn, giảm thuế, cần phải chú trọng đến tính minh bạch và trúng được nhóm đối tượng cần thiết. Mà để đúng và trúng, chúng ta lại quay về với yếu tố đặt ra trước đó: Đánh giá thiệt hại chính xác.

Năm 2003, Việt Nam đã đối mặt với dịch SARS. Nhìn quá khứ đến hiện tại, ông đánh giá như thế nào về khả năng hỗ trợ cho nền kinh tế hậu dịch bệnh?

Theo tôi, Việt Nam đã có kinh nghiệm hơn trong việc đánh giá đúng tình hình, hành xử nhanh nhưng không vội vàng, nắm rõ các công cụ chính sách có thể sử dụng và đưa ra vào thời điểm nào.

Năm 2003, bên cạnh những biện pháp về y tế kịp thời, hiệu quả, Việt Nam còn gặp thuận lợi là đang trong giai đoạn phát triển mạnh khi duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP trên 7%. Mặt khác, đây cũng là giai đoạn Chính phủ tăng tốc cải cách nhằm chuẩn bị để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Do đó, khi xảy ra sự cố dịch bệnh, nền kinh tế không đòi hỏi những biện pháp cứu trợ tương đối phức tạp. Tuy nhiên, tôi phải lưu ý lại, trong những hoàn cảnh như SARS hồi 2003 hay Covid-19 năm nay, điều quan trọng là đánh giá tình hình một cách kịp thời, nhưng không vội vã. Tâm lý hốt hoảng sẽ khiến thị trường hỗn loạn.

Vậy qua tiếp xúc, ông cảm nhận gì về tâm lý của các khối doanh nghiệp trước dịch Covid-19?

Với nhóm doanh nghiệp FDI, tâm thế đến nay là khá vững vì họ có tiềm lực và ít nhiều chủ động được nguồn hàng cung ứng; họ chỉ lo ngại bệnh dịch kéo dài quá thời gian mà tồn kho của họ có thể đáp ứng. Nhưng với cộng đồng doanh nghiệp trong nước thì không như vậy, họ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, nên họ cũng chia sẻ nhiều hơn thông qua các kiến nghị.

Điều này cũng là dễ hiểu khi quy mô doanh nghiệp Việt đa phần là nhỏ và vừa. Những doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu hoặc chuỗi giá trị đều có quan hệ phụ thuộc tương đối với các doanh nghiệp nước ngoài nên việc thiếu bình tĩnh hơn (so với doanh nghiệp FDI) là khó tránh khỏi.

Chính vì vậy, tôi cho rằng việc có kênh chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp - mà Chính phủ trực tiếp kết nối - sẽ giúp các nhóm cộng đồng có sự thông cảm, chia sẻ kinh nghiệm ứng phó. Từ đó, có thể xây dựng kịch bản để cùng điều chỉnh chiến lược sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.

Nói đến kịch bản, tính đến hiện tại, Bộ KHĐT đã đưa ra 2 kịch bản cho tăng trưởng GDP: 6,25% nếu khống chế dịch trong quý I; 5,96% nếu khống chế trong quý II. Thủ tướng lại bày tỏ quyết tâm không hạ mục tiêu tăng trưởng là 6,8%. Ông nhìn nhận như thế nào về điều này?

Diễn biến trên thực tế có thể rất khác vì có nhiều biến số khác nhau đến từ trong và ngoài nước. Nếu Chính phủ thực hiện được các biện pháp vừa đảm bảo hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, vừa tạo được đà cải cách, củng cố niềm tin, giữ được bình tĩnh cho thị trường… có thể kết quả sẽ tích cực hơn các dự báo đưa ra. Nhìn từ góc độ ấy, những dự báo chỉ tạo thêm cơ sở để xây dựng chính sách ứng phó với sự cố phù hợp hơn.

Truyền thông quốc tế gần đây nhận định nhờ sản xuất ở Việt Nam, Samsung gặt hái thành quả sau 10 năm, còn đối thủ như Apple, Huawei, gặp hạn vì dịch bệnh ở Trung Quốc. Nếu nhìn lạc quan, đây có phải tin tốt trong việc thu hút FDI vào Việt Nam?

Trên thực tế, không phải đến giờ chúng ta mới đặt vấn đề về thu hút FDI từ các tập đoàn lớn. Các doanh nghiệp FDI lớn đã vào Việt Nam từ khá sớm, nhưng, chỉ rất ít doanh nghiệp làm được như Samsung trong tạo dựng quan hệ trực tiếp, chủ động xây dựng năng lực cho các nhà cung ứng trong nước.

Samsung đã đưa ra rất nhiều sáng kiến và chia sẻ các kinh nghiệp giúp cho các nhà cung ứng cũng như xây dựng mạng lưới cung ứng từ các doanh nghiệp trong nước. Từ đó, Samsung ít nhiều đã tạo ra sự gắn kết giữa các doanh nghiệp nội địa và chuỗi sản xuất mà họ làm chủ. Nhờ sự chủ động hơn về nguồn cung, Samsung đã giảm thiểu được tác động so với đối thủ.

Một khía cạnh khác ít được đề cập tới là hình ảnh xã hội của Samsung ở thị trường Việt Nam. Qua truyền thông, Samsung trong mắt đối tác người Việt dường như khá tích cực. Một nguyên nhân quan trọng chính là kết nối giữa tập đoàn này với các doanh nghiệp trong nước. Đây là bài học quan trọng để các doanh nghiệp FDI cũng như các cơ quan quản lý Việt Nam cân nhắc cách tiếp cận phù hợp trong thời gian tới.

Cần nhớ rằng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, trong đó, Việt Nam muốn khối FDI chủ động hơn trong việc liên kết, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp nội địa.

Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ sử dụng các công cụ thân thiện với thị trường để tạo gắn kết giữa hai khối này. Dù vậy, hiệu quả sẽ phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực của chính khối FDI. Theo đó, họ nhìn nhận nguồn cung ứng, thị trường Việt Nam như thế nào trên bản đồ thế giới. Đó là những yếu tố quan trọng để có những bước đi phù hợp.

Dịch Covid-19 cũng ít nhiều khiến doanh nghiệp nước ngoài phải cân nhắc nhiều hơn về quản trị rủi ro trong chuỗi cung ứng, đặc biệt là cân nhắc việc chuyển một phần đáng kể của chuỗi cung ứng đến Việt Nam.

Một thông tin khá tích cực trong bối cảnh u ám của dịch bệnh là Hiệp định EVFTA đã được Nghị viện châu Âu phê chuẩn. Cùng với Hiệp định CPTPP bước sang năm thứ 2, những FTA này có thể hỗ trợ những gì cho Việt Nam?

Từ thực tiễn của 2 năm thúc đẩy xuất khẩu trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và 1 năm kinh nghiệm khai thác thị trường CPTPP, tôi tin tưởng doanh nghiệp Việt sẽ tận dụng được nhiều cơ hội hơn trong thời gian tới.

Vấn đề ở đây là làm thế nào để những lợi ích này được đảm bảo một cách bền vững và phù hợp trong quá trình tái cơ cấu kinh tế. Những lợi ích này không chỉ thể hiện ở chỗ xuất khẩu được bao nhiêu tỷ USD mà còn ở việc chiếm lĩnh được bao nhiêu phân khúc trên thị trường, đó là phân khúc nào, có chất lượng cao hay không, mức độ cạnh tranh của hàng Việt...

Hay giá trị gia tăng mà Việt Nam thu được từ nhiều tỷ USD xuất khẩu đấy có tương xứng với mong muốn phát triển của chúng ta hay không. Đó là điều mà Việt Nam đã nhìn thấy trong nhiều năm. Để xử lý được, cần cải thiện năng lực cạnh tranh ở cả góc độ thể chế, doanh nghiệp và ngành hàng.

Trên hết, những kết quả này chỉ có thể hiện thực hóa khi hành động một cách nhất quán trong thời gian đủ dài. Hiệp định CPTPP, EVFTA là sân chơi của những đối tác hàng đầu thế giới. Lợi ích từ đó cũng đủ và đáng để Việt Nam tích cực cải cách, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình ở các cấp độ nói trên.

Cảm ơn ông!

Theo Trí thức trẻ

  • Cùng chuyên mục
Lãi suất tiền gửi lên tới 9%: Cuộc cạnh tranh huy động vốn đang nóng trở lại?

Lãi suất tiền gửi lên tới 9%: Cuộc cạnh tranh huy động vốn đang nóng trở lại?

Trong khi Ngân hàng Nhà nước liên tục yêu cầu giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhiều ngân hàng lại âm thầm nâng lãi suất thực tế thông qua các chương trình cộng lãi suất, sản phẩm tiền gửi đặc biệt và chính sách dành cho khách hàng ưu tiên. Mức sinh lời lên tới 8,8-9%/năm đang phản ánh áp lực huy động vốn ngày càng lớn của hệ thống ngân hàng, đồng thời đặt ra câu hỏi liệu thị trường có bước vào một chu kỳ cạnh tranh lãi suất mới hay không.

Tài chính - 09/07/2026 15:52

Hai ngân hàng chuẩn bị chào sàn HoSE

Hai ngân hàng chuẩn bị chào sàn HoSE

Hai ngân hàng Vietbank và BVBank đang hoàn tất những bước cuối cùng để chuyển giao dịch từ UPCoM sang niêm yết HoSE. Cùng với việc lên sàn, cả hai nhà băng cũng đồng thời triển khai các kế hoạch tăng vốn điều lệ.

Tài chính - 09/07/2026 07:47

Nhà sản xuất 'Anh Trai Say Hi' sẽ IPO với mức giá thấp hơn gần 33% so với định giá

Nhà sản xuất 'Anh Trai Say Hi' sẽ IPO với mức giá thấp hơn gần 33% so với định giá

ĐatViet VAC sẽ chào bán hơn 11,15 triệu cổ phiếu với giá 54.800 đồng/cổ phiếu. Mức giá này thấp hơn khoảng 33% so với giá trị 81.716 đồng/cổ phiếu theo chứng thư thẩm định, phần lớn số tiền huy động sẽ được dùng để tăng vốn cho các công ty con nhằm cơ cấu tài chính và trả nợ ngân hàng.

Tài chính - 09/07/2026 06:45

PNJ đảo chiều sau 3 phiên giảm sàn, HĐQT kích hoạt kế hoạch mua lại cổ phiếu

PNJ đảo chiều sau 3 phiên giảm sàn, HĐQT kích hoạt kế hoạch mua lại cổ phiếu

Trong bối cảnh thị giá lao dốc và nhiều công ty chứng khoán đồng loạt hạ triển vọng, PNJ kích hoạt kế hoạch mua lại cổ phiếu nhằm bảo vệ giá trị doanh nghiệp và lợi ích của cổ đông.

Tài chính - 08/07/2026 16:17

Lợi nhuận quý II tích cực và lãi suất giảm sẽ hỗ trợ chứng khoán

Lợi nhuận quý II tích cực và lãi suất giảm sẽ hỗ trợ chứng khoán

Các công ty chứng khoán cho rằng thị trường đang bước qua "vùng trũng thông tin" để bước vào giai đoạn được hỗ trợ bởi mùa báo cáo lợi nhuận quý II, lãi suất có xu hướng giảm và nhiều yếu tố vĩ mô tích cực. Đây được xem là nền tảng để VN-Index hướng tới các mốc cao hơn trong những tháng cuối năm.

Tài chính - 08/07/2026 10:47

Các CTCK đồng loạt siết margin đối với cổ phiếu PNJ

Các CTCK đồng loạt siết margin đối với cổ phiếu PNJ

Từ một trong những cổ phiếu luôn được cấp margin ở mức tối đa, PNJ đang lần lượt bị nhiều công ty chứng khoán loại khỏi danh mục cho vay ký quỹ hoặc hạ tỷ lệ cho vay sau chuỗi giảm sàn liên tiếp. Các tổ chức phân tích cũng bắt đầu thận trọng hơn khi đánh giá triển vọng của doanh nghiệp.

Tài chính - 08/07/2026 08:57

Chủ tịch UBCKNN: 'Phát hành chứng khoán phải trở thành động lực huy động nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế'

Chủ tịch UBCKNN: 'Phát hành chứng khoán phải trở thành động lực huy động nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế'

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn tới, thị trường chứng khoán được kỳ vọng sẽ phát huy mạnh mẽ hơn vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Tài chính - 07/07/2026 16:13

Sàn Giao dịch carbon chính thức vận hành, tạo nền tảng cho mục tiêu phát thải ròng bằng '0'

Sàn Giao dịch carbon chính thức vận hành, tạo nền tảng cho mục tiêu phát thải ròng bằng '0'

Việc đưa Sàn Giao dịch carbon trong nước vào hoạt động không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 mà còn hình thành cơ chế giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon theo nguyên tắc minh bạch, an toàn.

Tài chính - 07/07/2026 14:33

Máy tính, điện thoại rục rịch tăng giá: Doanh nghiệp ICT có hưởng lợi?

Máy tính, điện thoại rục rịch tăng giá: Doanh nghiệp ICT có hưởng lợi?

Làn sóng tăng giá chip nhớ dưới tác động của AI đang lan từ các nhà sản xuất bán dẫn sang những thương hiệu điện tử như Apple, Dell hay ASUS. Trong khi lợi nhuận của nhóm doanh nghiệp ICT niêm yết tại Việt Nam đồng loạt tăng mạnh trong quý I/2026, báo cáo tài chính cho thấy không phải mức tăng nào cũng phản ánh sức khỏe của hoạt động kinh doanh cốt lõi.

Tài chính - 07/07/2026 14:03

Thêm động thái trấn an từ người nhà Chủ tịch, cổ phiếu PNJ vẫn giảm sàn

Thêm động thái trấn an từ người nhà Chủ tịch, cổ phiếu PNJ vẫn giảm sàn

Bất chấp hàng loạt động thái trấn an nhà đầu tư sau vụ việc liên quan đến Công ty TNHH MTV Giám định PNJ (P-Lab), cổ phiếu PNJ vẫn tiếp tục bị bán mạnh, giảm sàn phiên thứ 3 liên tiếp.

Tài chính - 07/07/2026 10:36

UBCKNN xác định loạt nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm

UBCKNN xác định loạt nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xác định trọng tâm những tháng cuối năm là hoàn thiện khung pháp lý, đẩy nhanh triển khai mô hình đối tác bù trừ trung tâm (CCP), nghiên cứu phát triển thị trường tài sản mã hóa và thực hiện các giải pháp nâng hạng thị trường.

Tài chính - 07/07/2026 08:46

PNJ khẳng định 28.000 viên kim cương không vào hệ thống

PNJ khẳng định 28.000 viên kim cương không vào hệ thống

Ban lãnh đạo PNJ khẳng định 28.000 viên kim cương trong vụ án buôn lậu đang được cơ quan điều tra làm rõ không đi vào hệ thống của doanh nghiệp. Đồng thời, PNJ cho biết kết quả kinh doanh quý II vẫn tăng trưởng hai chữ số, duy trì kế hoạch năm 2026 và triển khai nhiều biện pháp siết quản trị sau sự cố liên quan đến PNJ-LAB.

Tài chính - 06/07/2026 17:07

Chuyện gì đang diễn ra với cổ phiếu Hà Đô Group?

Chuyện gì đang diễn ra với cổ phiếu Hà Đô Group?

Sau khi mất khoảng 32% giá trị trong hơn ba tháng, cổ phiếu Hà Đô Group đang giao dịch ở vùng đáy hơn hai năm. Ngoài kết quả kinh doanh kém tích cực, doanh nghiệp còn đối mặt với rủi ro liên quan cơ chế giá FIT của các dự án điện mặt trời.

Tài chính - 06/07/2026 15:24

Doanh nghiệp niêm yết giữ vững chất lượng CBTT trong năm đầu áp dụng quy định mới

Doanh nghiệp niêm yết giữ vững chất lượng CBTT trong năm đầu áp dụng quy định mới

Năm đầu tiên áp dụng các tiêu chuẩn công bố thông tin theo Thông tư 68/2024/TT-BTC không làm suy giảm tỷ lệ doanh nghiệp đạt chuẩn. Theo khảo sát IR Awards 2026, 67% doanh nghiệp niêm yết đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về công bố thông tin.

Tài chính - 06/07/2026 12:51

Tuần 6/7 - 10/7: Loạt doanh nghiệp chốt quyền trả cổ tức tiền mặt, mức cao nhất lên tới 40%

Tuần 6/7 - 10/7: Loạt doanh nghiệp chốt quyền trả cổ tức tiền mặt, mức cao nhất lên tới 40%

Việc nhiều doanh nghiệp đồng loạt chốt quyền trả cổ tức trong tuần thứ hai của tháng 7 phản ánh kết quả kinh doanh khả quan của năm tài chính trước cũng như nỗ lực duy trì chính sách chia sẻ lợi nhuận với cổ đông.

Tài chính - 06/07/2026 10:06

Nghị quyết 10-NQ/TW: Kiến tạo giá trị phát triển quốc gia từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Nghị quyết 10-NQ/TW: Kiến tạo giá trị phát triển quốc gia từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phản ánh sự phát triển mới trong tư duy hoạch định chính sách của Việt Nam trước những biến động sâu sắc của kinh tế thế giới, từ mục tiêu bổ sung nguồn lực đầu tư, FDI được nhìn nhận như một cấu phần của chiến lược nâng cấp vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Tài chính - 06/07/2026 07:00