Đã đến lúc các tập đoàn lớn vươn ra nước ngoài, thay vì chỉ chia miếng bánh nội địa

BAN BIÊN TẬP
13:00 13/04/2026

Chiều 13/4, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" nhằm đánh giá vai trò dẫn dắt và khuyến nghị chính sách phát triển mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế.

Hội thảo có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, hiệp hội, các chuyên gia kinh tế - tài chính - pháp luật, lãnh đạo các ngân hàng thương mại, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp trong nước.

Về phía lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương: Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách chiến lược Trung ương, ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; TS. Phan Văn Hùng, Phó TBT Báo Nhân dân; ông Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội.

Về phía các chuyên gia kinh tế: Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành Kinh tế, Ngân hàng Nhà nước; ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế, Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI); PGS-TS. Trần Đình Thiên, Thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam; ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup;

Ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Cục trưởng Cục Thuế doanh nghiệp lớn, Tổng cục Thuế; PGS-TS. Nguyễn Thành Hiếu, Phó Hiệu trưởng, Đại học Kinh tế Quốc dân; TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn Phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV); luật sư cấp cao Ngô Thái Ninh, Công ty luật Baker & McKenzie; TS. Phí Vĩnh Tường, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Về phía lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước: Ông Lê Khắc Hiệp, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup; ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch HĐQT, Phó TGĐ Ngân hàng SHB; ông Nguyễn Minh Hải, Tổng giám đốc Tập đoàn Taseco; ông Nguyễn Tiến Thanh, Chủ tịch HĐTV kiêm TGĐ Công ty TNHH MTV NXB Giáo dục Việt Nam; ông Lê Minh Tài, TGĐ CTCP Chứng khoán VPS; ông Lê Mạnh Linh, Tổng giám đốc CTCP Tài chính tổng hợp cổ phần Điện lực;

Bà Nguyễn Thuý Hạnh, Tổng giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam; bà Nguyễn Thị Tuyết Vân, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu; ông Nguyễn Duy Hưng, Thành viên HĐQT Tập đoàn Tân Hiệp Phát; ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch HĐQT Tập đoàn HDMon; ông Mai Thanh Phương, Chủ tịch HĐQT CTCP Sản xuất và Công nghệ Nhựa Pha Lê, cùng lãnh đạo, đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp tham.

Về phía cơ quan chủ quản của Tạp chí Nhà đầu tư: TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cùng các vị Phó chủ tịch.

Về phía Ban tổ chức: Nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư, Trưởng ban tổ chức Hội thảo; nhà báo Võ Tá Quỳnh, Phó tổng biên tập Thường trực; nhà báo Nguyễn Thái Sơn, Ủy viên Ban biên tập

Các phóng viên báo chí truyền hình Trung ương và Hà Nội đã đến dự và đưa tin hội thảo.

Thông tin về hội thảo được tường thuật trực tiếp trên Tạp chí điện tử Nhadautu.vn, Theinvestor.vn, livestream trên nền tảng Facebook, Youtube của Tạp chí Nhà đầu tư. Thông tin trên các cơ quan báo đài, truyền hình có mặt hôm nay sẽ chuyển tải rộng rãi thông tin của hội thảo đến cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn - Trưởng Ban tổ chức hội thảo phát biểu khai mạc. Ảnh: Trọng Vũ.

Phát biểu khai mạc hội thảo, nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn - Trưởng Ban tổ chức hội thảo cho biết, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, chúng ta đã vươn lên trở thành một hình mẫu phát triển kinh tế trên thế giới. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, đánh giá vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế

Theo nhà báo Phạm Đức Sơn, hội thảo diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI vừa bầu ra lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ nhiệm kỳ mới.

Trong bài phát biểu nhậm chức, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định quyết tâm không thể để đất nước tụt hậu, không thể để Nhân dân mất cơ hội phát triển. Tân Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026-2031 là mệnh lệnh phát triển để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước.

Tại Văn kiện Đại hội XIV, để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược, Đảng xác định rõ kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh; khuyến khích doanh nghiệp trong nước lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh quốc tế; đưa tri thức và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh; thu hút có chọn lọc dự án đầu tư nước ngoài, tập trung chủ yếu cho các ngành công nghiệp công nghệ cao, tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Hội thảo có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, hiệp hội, các chuyên gia kinh tế - tài chính - pháp luật, lãnh đạo các ngân hàng thương mại, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp trong nước. Ảnh: A Huy.

Trước đó, Bộ Chính trị Khoá XIII đã ban hành hàng loạt Nghị quyết chiến lược, trong đó nổi bật là Nghị quyết 57 về phát triển khoa học công nghệ, Nghị quyết 68 về thúc đẩy kinh tế tư nhân, và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước,… cùng đặt mục tiêu xây dựng các tập đoàn kinh tế hàng đầu, dần vươn tầm châu lục và thế giới, có vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, gia tăng nội lực của nền kinh tế.

"Trong bối cảnh đó, Tạp chí Nhà đầu tư, cơ quan của Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi Mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" nhằm tạo diễn đàn để các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia và cộng đồng doanh nhân cùng nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, đánh giá vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế", Tổng biên tập Phạm Đức Sơn nhấn mạnh.

Cũng theo nhà báo Phạm Đức Sơn, hội thảo hôm nay là một trong những hoạt động thiết thực mà Tạp chí Nhà đầu tư triển khai nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trên tinh thần hành động mà Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn chủ xướng và hối thúc.

Triểu khai cơ chế đặt hàng để khơi thông nguồn lực tư nhân

Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương: Trong Hội nghị Trung ương III tới (cuối tháng 6, đầu tháng 7), Ban sẽ trình Bộ Chính trị Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học công nghệ (KHCN) đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Như các chuyên gia cũng biết, chúng ta ban hành về mặt chủ trương phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp tư nhân (DNTN) luôn được quan tâm. Ngày 3/6/2017, nghị quyết đầu tiên là Nghị quyết 10 với mong muốn phát triển KTTN, và được bổ sung hiện nay với Nghị quyết 68.

Cũng tháng 6/2017, có Nghị quyết 12, gần đây rộng hơn là Nghị quyết 79 về kinh tế Nhà nước với mục 2.4 có nội dung về đổi mới sắp xếp DNNN. Câu hỏi đặt ra: Để sớm đưa chủ trương vào cuộc sống rất mong chuyên gia và doanh nghiệp trao đổi thẳng thắn.

Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương. Ảnh: A Huy.

Xin gợi mở một số vấn đề: Một là, về phát triển kinh tế tư nhân. Trong quan điểm chung, KTTN là một trong các động lực quan trọng nhất. Khối KTTN thực tế đóng góp 50% GDP và giải quyết nhiều việc làm. Tuy nhiên, cấu trúc tổng thể KTTN thì ngoài hệ thống các doanh nghiệp (hơn 1 triệu đơn vị) song chủ yếu doanh nghiệp vừa và nhỏ và 5 triệu hộ kinh doanh.

Về mặt chủ trương mong muốn có tập đoàn KTTN lớn mạnh, nhưng loay hoay gần 3 năm, chúng ta ban đầu có đề án phát triển tập đoàn tư nhân sau này ghép cả Nhà nước vào thành các doanh nghiệp dân tộc nhưng đến nay vẫn chưa làm được.

Do đó, mong muốn lắng nghe những chia sẻ từ khối DNTN. Với doanh nghiệp, cơ chế quan trọng được đề ra là cơ chế Nhà nước đặt hàng đặt hàng các DNTN triển khai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia, như thực tế là còn chậm. Chúng ta mới ban hành bước đầu, đặt hàng đường sắt tốc độ cao.

Mong muốn các DNTN trao đổi cơ chế thẳng thắn. Khi đặt hàng cần xây dựng tiêu chuẩn định mức và quyết định đầu ra để đặt hàng. Vậy những gì đang chậm? Đây là vấn đề không chỉ ban IV mà cơ quan quản lý và các bộ ngành đều quan tâm. Để gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, cần sớm hoàn thiện các toàn bộ các cơ chế chính sách trong đó có cơ chế đặt hàng, định mức… để khơi thông nguồn lực tư nhân.

Khi tính toán để đạt mục tiêu cần lượng vốn 35,8 triệu tỷ đồng, phần vốn Nhà nước là 8,51 triệu tỷ, vậy phần còn lại huy động từ khu vực tư nhân và nước ngoài. Vậy các điểm nghẽn lớn là gì? Rõ ràng, cần có sự liên kết của các DNTN trong nước, đặc biệt bối cảnh cấu trúc chúng ta có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Các đại biểu tham gia hội thảo. Ảnh: A Huy.

Vậy ứng xử chính sách của Nhà nước làm sao để thúc đẩy? Việc thúc đẩy động lực thúc đẩy liên kết, triển khai bằng những chương trình gì? Có lẽ cần thay đổi tư duy xây dựng chính sách hỗ trợ DN? Các bộ có nên trực tiếp triển khai chính sách hỗ trợ không, hay để thị trường làm? Tại sao nhiều mô hình, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp phụ trợ phát triển công nghiệp vẫn không hiệu quả? Phải chăng cách tiếp cận chính sách phải thay đổi? Với DNTN cần thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số từ chính sách quy định hạch toán chi phí, tính % đã đủ để DN thúc đẩy hoạt động khoa học?

Đâu là những rào cản thấy khó và cần trao đổi thẳng thắn. Trừ một số DN tiên phong, về mặt cấu trúc vẫn phụ thuộc lớn vào tài chính và bất động sản, DN chế tạo nhìn chung giá trị khoảng 10%. Việt Nam đề ra 2045 mục tiêu đất nước thu nhập cao, và chắc chắn phải phát triển CN, vậy làm thế nào để khuyến khích DN khi đầu tư vào lĩnh vực vốn dài, rủi ro lớn?

Với vấn đề quản trị thực thi, việc phối hợp triển khai cấu trúc, giữa cơ quan quản lý nhà nước và các địa phương còn vướng những gì? Trong Kết luận 18, Trung ương dự kiến rà soát lại Phụ lục III, nhiệm vụ số 27, về việc quản lý một số bộ ngành để thống nhất, không đan xen. Ví dụ, công nghiệp chế tạo bên Bộ Công Thương, công nghiệp công nghệ số bên Bộ Thông tin và Truyền thông (cũ), Khu công nghiệp là Bộ Tài chính… Vậy rà soát lại với tinh thần một việc một đầu mối, tư duy quản lý theo chuỗi. Với DNNN, có Nghị quyết 79 và kế thừa Nghị quyết 12 nhiều.

Xin lắng nghe các đại biểu một số vấn để định hình vai trò DNNN là tiên phong dẫn dắt, tách bạch nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ kinh doanh thông thường. Nhưng vẫn vướng, vậy làm thế nào? Phân định DNNN và DNTN thế nào để triển khai? Thực tiễn nhiều DNNN đấu giá, đấu thầu rồi "outsource" cho DNTN làm. Vậy phân định sân chơi thế nào cho DNTN và DNNN?

Ngoài ra, rà soát để giao nhiệm vụ tăng trưởng đầu tư, mong muốn lắng nghe DNNN rằng việc triển khai có vướng không? Vấn đề liên kết hệ sinh thái DNTN và DNNN có cần chính sách gì? Rất mong DNNN có những chia sẻ. Cuối cùng, không thể phủ nhận vai trò của doanh nghiệp FDI. Thời gian tới BCT ban hành Nghị quyết về kinh tế đầu tư nước ngoài. Với đặc thù Việt Nam, lộ trình phát triển thời gian tới có vai trò của FDI.

Nhưng với tập đoàn kinh tế trong nước tham gia cùng FDI thế nào? Hướng đến phát triển tự cường, Việt Nam cần dựa vào DNTN trong nước và DNNN. Vậy thúc đẩy hỗ trợ liên kết cần những yếu tố gì?

Ngân hàng Nhà nước cam kết cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế

Ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc NHNN: Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, không thể không nhắc tới vai trò "đầu tàu" của các tập đoàn kinh tế. Dù là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo hay khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, các tập đoàn kinh tế thời gian qua luôn khẳng định vị thế là xương sống và lực lượng dẫn dắt của nền kinh tế.

Các đơn vị này không chỉ đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP và thu ngân sách Nhà nước, tạo ra hàng triệu việc làm, mà còn trực tiếp triển khai các công trình, dự án trọng điểm quốc gia; xây dựng và đưa thương hiệu của các ngành sản xuất, dịch vụ, thương mại Việt Nam vươn tầm quốc tế, qua đó ngày càng củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Đứng từ góc độ ngành ngân hàng, hệ thống các tổ chức tín dụng luôn đồng hành, bứt phá và đóng góp vào sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nói riêng cũng như tăng trưởng kinh tế nói chung.

Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, sau 40 năm Đổi mới, ngành ngân hàng đã có bước phát triển vượt bậc, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần cùng Chính phủ và cả hệ thống chính trị vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

Ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc NHNN cho hay, Ngân hàng Nhà nước cam kết cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế. Ảnh: A Huy.

Theo đó, đến ngày 31/12/2025, hệ thống ngân hàng gồm 127 tổ chức tín dụng với tổng tài sản gần 28,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với cuối năm 2024 và tăng gần 2.000 lần sau gần 40 năm. Huy động vốn tăng 15,42% so với cuối năm 2024, tương đương mức tăng gần 1.300 lần sau gần 40 năm.

Trong đó, nhiều ngân hàng đã đạt quy mô lớn và có thứ hạng cao trên thị trường quốc tế. Thứ hai, hệ thống pháp luật về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng liên tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng cung ứng nguồn vốn lớn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và hỗ trợ sản xuất kinh doanh.

Đối với các tập đoàn kinh tế, ngành ngân hàng luôn xác định đây là nhóm khách hàng truyền thống, quy mô lớn, có uy tín, sẵn sàng được cấp tín dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đầu tư các dự án lớn có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng, bảo đảm tiến độ và hiệu quả.

Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng của nền kinh tế đạt khoảng 18,6 triệu tỷ đồng, tăng 19,07% so với cuối năm 2024, tương đương 144% GDP. Trong đó, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 48% tổng dư nợ toàn nền kinh tế; dư nợ đối với các tập đoàn, tổng công ty chiếm khoảng 7%.

Bên cạnh đó, ngành ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong toàn hệ thống, phát triển các sản phẩm, dịch vụ thanh toán hiện đại, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng tiếp cận vốn tín dụng.

Kết quả trên cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng Việt Nam không chỉ góp phần cung cấp nguồn lực và dịch vụ tài chính cho cộng đồng doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế, mà bản thân sự lớn mạnh của hệ thống tài chính - ngân hàng cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy khu vực doanh nghiệp Việt Nam phát triển.

Đối với ngành ngân hàng, chúng tôi cam kết tiếp tục điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, tín dụng và ngoại hối; bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hùng cường và thịnh vượng.

Tôi đánh giá cao việc Tạp chí Nhà đầu tư kịp thời tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế", tạo diễn đàn trao đổi giữa các cơ quan của Đảng, cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia, đại diện các tập đoàn kinh tế, tổ chức tài chính và doanh nghiệp nhằm đánh giá sâu hơn vai trò, đóng góp của các tập đoàn kinh tế trong bối cảnh mới.

Đây cũng là dịp để rà soát khung khổ pháp lý, nhận diện các rào cản, điểm nghẽn, từ đó đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả các nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, "khơi thông" nguồn lực để các tập đoàn kinh tế trở thành lực lượng nòng cốt, góp phần giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030.

Tôi tin tưởng rằng, với sự tham gia tích cực, trách nhiệm và tinh thần hợp tác của tất cả quý vị, hội thảo sẽ đạt được những kết quả thiết thực, hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra.

Động lực từ VinFast đối với việc hình thành chuỗi liên kết kinh tế và phát triển công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam

Ông Lê Khắc Hiệp, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup: 40 năm Đổi mới đã đưa nền kinh tế Việt Nam đi qua một hành trình chuyển đổi sâu sắc, từ một nền kinh tế dựa trên nông nghiệp sang công nghiệp hóa và hội nhập toàn cầu. Tuy nhiên, trong suốt chặng đường đó, một câu hỏi lớn vẫn luôn được đặt ra: Khi nào Việt Nam có thể sở hữu được những ngành công nghiệp chế tạo có năng lực nội sinh đủ mạnh để dẫn dắt tăng trưởng dài hạn và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu?

Ngành công nghiệp ô tô, với tính chất tích hợp cao và yêu cầu công nghệ phức tạp, chính là phép thử rõ nét nhất cho năng lực đó. Trong nhiều năm trước đây, ngành ô tô Việt Nam chủ yếu dừng lại ở mức lắp ráp, với tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc lớn vào chuỗi cung ứng bên ngoài.

Ông Lê Khắc Hiệp, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup. Ảnh: A Huy.

Doanh nghiệp trong nước khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị do hạn chế về công nghệ, vốn và quy mô thị trường. Hệ quả là ngành tồn tại như một cấu trúc chưa hoàn chỉnh: Có thị trường tiêu thụ nhưng thiếu nền tảng công nghiệp hỗ trợ đủ mạnh để tạo ra giá trị gia tăng bền vững.

Sự xuất hiện của VinFast trong bối cảnh đó được nhiều chuyên gia đánh giá là một bước ngoặt đáng chú ý. Điều quan trọng không nằm ở việc xuất hiện thêm một doanh nghiệp sản xuất ô tô, mà ở cách tiếp cận hoàn toàn khác về phát triển ngành.

Thay vì đi theo con đường lắp ráp, VinFast lựa chọn xây dựng một tổ hợp sản xuất tự động hóa cao ngay từ đầu, với đầy đủ các công đoạn từ nghiên cứu phát triển tới dập, hàn, sơn, sản xuất động cơ và từng bước làm chủ các công nghệ lõi. Đây là nền tảng để chuyển dịch từ "sản xuất phụ thuộc" sang "sản xuất tự chủ".

Quan trọng hơn, VinFast không phát triển như một thực thể đơn lẻ mà định vị mình như một hạt nhân trong chuỗi sản xuất, đóng vai trò kết nối và dẫn dắt mạng lưới các nhà cung cấp. Chính cách tiếp cận này đã bắt đầu tái cấu trúc ngành ô tô Việt Nam theo hướng hình thành chuỗi liên kết kinh tế nội địa.

Một yếu tố mang tính quyết định trong quá trình này là quy mô thị trường. Năm 2025, VinFast đã bàn giao hơn 175.000 xe tại Việt Nam, giữ vững vị trí thương hiệu ô tô số một tại thị trường trong nước. Con số này không chỉ tạo nên một kỷ lục về doanh số, mà quan trọng hơn, còn mang tới điều kiện nền tảng cho công nghiệp hỗ trợ phát triển mạnh mẽ.

Sản lượng thị trường đạt đến ngưỡng đủ lớn chính là tiền đề cho hiệu quả đầu tư của chuỗi công nghiệp hỗ trợ. Khi đó, doanh nghiệp phụ trợ mới có thể mạnh dạn đầu tư sâu vào dây chuyền sản xuất, công nghệ và nhân lực. Với vai trò là doanh nghiệp hạt nhân, VinFast đã tạo ra lực kéo đủ mạnh để kích hoạt quá trình này, chuyển nhu cầu thị trường thành động lực phát triển cho toàn bộ chuỗi cung ứng.

Trên nền tảng quy mô đó, chiến lược nội địa hóa của VinFast đóng vai trò then chốt. Tính đến năm 2025, tỷ lệ nội địa hóa xe điện đã đạt khoảng 60% và hướng tới mục tiêu 80% khi cell pin được sản xuất tại Việt Nam vào năm 2026.

Việc làm chủ các công nghệ lõi giúp doanh nghiệp kiểm soát chuỗi giá trị, giảm phụ thuộc vào bên ngoài và mở ra không gian cho các doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn. Khi doanh nghiệp đầu chuỗi như VinFast nắm giữ công nghệ lõi, toàn bộ hệ sinh thái phía sau sẽ có cơ hội phát triển theo, tạo ra hiệu ứng lan tỏa mà nhiều quốc gia công nghiệp đã từng trải qua.

Tác động của VinFast đối với công nghiệp hỗ trợ thể hiện rõ nhất ở sự thay đổi về chất. Trước hết là việc giải bài toán đầu ra cho doanh nghiệp nội địa. Trong nhiều năm, không ít doanh nghiệp có năng lực cơ khí, điện tử nhưng không dám đầu tư vì thiếu thị trường ổn định.

VinFast đã tạo ra sự bảo chứng này thông qua các hợp tác dài hạn và quy mô lớn. Khi có đơn hàng ổn định, doanh nghiệp có thể tự tin đầu tư vào máy móc, nâng cấp công nghệ và mở rộng sản xuất. Đây là điều kiện tiên quyết để hình thành năng lực công nghiệp thực chất.

Đồng thời, việc tham gia vào chuỗi cung ứng của VinFast - một doanh nghiệp hướng tới thị trường toàn cầu - buộc các nhà cung cấp phải nâng cấp toàn diện về tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị chất lượng và tiêu chí phát triển bền vững. Quá trình này không chỉ giúp họ đáp ứng yêu cầu của VinFast mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh để tham gia vào các chuỗi giá trị quốc tế khác.

Hiệu quả nhìn thấy rất rõ rệt. Tại hội thảo về nội địa hóa cuối năm 2024 diễn ra tại nhà máy VinFast Hải Phòng, chủ một doanh nghiệp nội là đối tác dập thân vỏ, cửa đồng hành cùng VinFast từ 2017 cho biết, quy mô tài sản của doanh nghiệp đã tăng tới 12 lần sau 7 năm tham gia chuỗi cung ứng cho VinFast. Ví dụ điển hình này phần nào cho thấy hiệu quả của chuỗi cung ứng do VinFast đứng đầu.

Bên cạnh đó, VinFast còn đóng vai trò xúc tác trong việc hình thành các cụm liên kết công nghiệp hỗ trợ. Thông qua các chương trình kết nối nhà cung cấp quy mô lớn, VinFast đã tạo ra một nền tảng để các doanh nghiệp trong nước gặp gỡ, hợp tác và cùng tham gia vào chuỗi giá trị. Đây là yếu tố then chốt để phát triển các cụm công nghiệp hỗ trợ chuyên sâu, vốn là nền tảng thành công của các quốc gia công nghiệp phát triển.

Việc hình thành các cụm liên kết không chỉ giúp tối ưu chi phí mà còn thúc đẩy chia sẻ công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo ra năng lực cạnh tranh tập thể. Song song với đó, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong chuỗi như ưu đãi hạ tầng, hỗ trợ kỹ thuật và kết nối tài chính đã góp phần giảm rào cản gia nhập ngành, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tác động của VinFast không dừng lại trong phạm vi ngành ô tô mà lan tỏa ra toàn bộ nền kinh tế. Sự phát triển của doanh nghiệp kéo theo nhu cầu từ nhiều ngành liên quan như cơ khí chính xác, điện tử, vật liệu, logistics hay năng lượng, tạo ra hiệu ứng lan tỏa đa ngành.

Các trung tâm sản xuất VinFast ở Hải Phòng hay Hà Tĩnh trở thành cực tăng trưởng mới, thu hút lao động, dòng vốn và thúc đẩy phát triển hạ tầng. Ở cấp độ quốc tế, việc VinFast tham gia thị trường toàn cầu kéo theo các tiêu chuẩn quốc tế vào chuỗi cung ứng nội địa, tạo áp lực tích cực để doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp năng lực và hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Dù vậy, quá trình hình thành chuỗi liên kết kinh tế và phát triển công nghiệp hỗ trợ vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Năng lực doanh nghiệp nội địa chưa đồng đều, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao. Yêu cầu về vốn và đầu tư cho nghiên cứu phát triển còn lớn.

Cạnh tranh từ các nhà cung cấp quốc tế ngày càng gay gắt khi Việt Nam mở cửa sâu hơn. Những thách thức này đòi hỏi một cách tiếp cận đồng bộ, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp dẫn dắt và hệ thống đào tạo cần phối hợp chặt chẽ để nâng cấp toàn bộ hệ sinh thái.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với trọng tâm là kinh tế xanh và công nghiệp công nghệ cao, VinFast được kỳ vọng như một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp chế tạo và công nghiệp hỗ trợ. Việt Nam đang từng bước tiến tới làm chủ chuỗi giá trị. Và từ những bước đi ban đầu, một nền công nghiệp có khả năng cạnh tranh dài hạn đang được kiến tạo.

Với quy mô thị trường ngày càng mở rộng, chiến lược nội địa hóa rõ ràng và vai trò dẫn dắt hệ sinh thái, VinFast đã góp phần vào việc xây dựng chuỗi liên kết kinh tế có chiều sâu, đóng góp vào nền tảng để Việt Nam từng bước định vị vai trò trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Bốn thập kỷ của doanh nghiệp tư nhân: Từ "một bộ phận" đến "động lực quan trọng nhất"

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Sau gần 40 năm Đổi mới, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã đi từ chỗ gần như không có địa vị pháp lý rõ ràng đến vị thế là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trước đây, muốn mở công ty phải qua rất nhiều cơ quan, xin nhiều chữ ký, đóng nhiều con dấu, mất nhiều tháng và tốn kém lớn. Quyền kinh doanh bị giới hạn trong phạm vi cơ quan nhà nước cho phép.

Đến nay, Việt Nam đã có hơn một triệu doanh nghiệp đang hoạt động chính thức và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh. Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, tạo ra phần lớn việc làm, và một số tập đoàn tư nhân đã có vị trí đáng kể trên thị trường trong nước cũng như bắt đầu mở rộng ra khu vực và thế giới. Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị năm 2025 xác định kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất" và là “lực lượng tiên phong” trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Ảnh: A Huy.

Con đường đi đến vị trí đó không hề thẳng. Trước Đổi mới, doanh nghiệp tư nhân là đối tượng bị quốc hữu hóa và cải tạo. Trong mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chỉ doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã mới được thừa nhận. Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất bị xem là nguồn gốc của bóc lột.

Đại hội VI năm 1986 tạo ra bước ngoặt khi từ bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, nhưng sự thay đổi chưa đến ngay. Kinh tế tư nhân sau đó mới chỉ được phép tồn tại dưới hình thức kinh tế gia đình, tư bản nhỏ trong một số ngành sản xuất, và tư duy cải tạo, chuyển đổi các thành phần này sang những hình thức gần với chủ nghĩa xã hội hơn vẫn còn rõ.

Đến năm 1990, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân mới lần đầu công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của doanh nghiệp tư nhân, đồng thời bảo hộ quyền sở hữu tư liệu sản xuất, quyền thừa kế vốn và tài sản. Tuy vậy, hai đạo luật này vẫn mang dấu ấn của thời kỳ chuyển đổi: Doanh nghiệp phải có vốn pháp định, phải lập kế hoạch kinh doanh, phải xin phép trước khi hoạt động và vẫn chỉ được kinh doanh trong phạm vi cho phép.

Bước ngoặt thật sự diễn ra với Luật Doanh nghiệp 1999. Đạo luật này thay đổi quan niệm căn bản: quyền kinh doanh là của người dân chứ không phải của nhà nước. Người dân chỉ cần đăng ký kinh doanh, không phải xin phép. Lần đầu tiên nguyên tắc "được quyền kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm" được áp dụng. Yêu cầu về vốn pháp định bị bãi bỏ, thời gian thành lập doanh nghiệp rút từ nhiều tháng, thậm chí hơn một năm, xuống còn khoảng bảy ngày làm việc, chi phí giảm mạnh.

Tác động của cải cách thể chế nhanh chóng thể hiện qua những con số ấn tượng. Trong ba năm đầu thi hành luật, có khoảng 55.000 doanh nghiệp mới được thành lập, nhiều hơn tổng số doanh nghiệp ra đời trong suốt chín năm trước đó. Cùng với đó, hàng trăm giấy phép con bị bãi bỏ, một tổ công tác thi hành luật được lập để thường xuyên kiểm tra việc thực hiện ở các bộ, ngành, địa phương và kiến nghị bãi bỏ hơn 150 giấy phép. 

Dù vậy, cải cách thể chế cho kinh tế tư nhân trong 40 năm qua không bằng phẳng. Năm 2005, Luật Doanh nghiệp thống nhất và Luật Đầu tư chung lần đầu tạo ra môi trường kinh doanh thống nhất, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và trở thành nền tảng cho bước ngoặt gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007.

Nhưng sau khi gia nhập WTO, cải cách kinh tế trong nước lại chùng lại. Nhiều rào cản dưới dạng giấy phép kinh doanh được phục hồi, nhiều rào cản mới được bổ sung. Kinh tế tư nhân phải đồng thời đối mặt với cạnh tranh từ FDI, sự mở rộng của doanh nghiệp nhà nước và môi trường kinh doanh ngày càng kém thuận lợi.

Giai đoạn 2015-2019 có một đợt cải cách mạnh mẽ trở lại với việc bãi bỏ hàng nghìn thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, nhưng đại dịch COVID-19 làm chậm nỗ lực này. Nhiều thành quả cải cách không được duy trì, nhiều quy định mới tiếp tục tạo thêm rào cản, cùng với hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, né tránh trong bộ máy quản lý. Vì vậy, thể chế trở thành "điểm nghẽn của điểm nghẽn" đối với phát triển đất nước nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng.

Cùng với thay đổi thể chế là sự thay đổi trong nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân. Sau 15 năm đổi mới, đến năm 2002, kinh tế tư nhân mới lần đầu tiên được xác định cụ thể là một thành phần kinh tế. Trong 15 năm tiếp theo, vị trí của khu vực này chuyển từ "bộ phận không thể thiếu" đến "bộ phận quan trọng", rồi "một động lực", "động lực quan trọng” của nền kinh tế.

Đến năm 2025, Nghị quyết 68 mới chính thức thừa nhận kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất", là "lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Phải mất gần 40 năm, vai trò của khu vực này mới được đặt vào vị trí tương xứng.

Khu vực doanh nghiệp tư nhân cũng đã tạo ra nhiều kết quả nổi bật. Trong top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, số doanh nghiệp tư nhân tăng đáng kể. Việt Nam có 76 công ty nằm trong top 500 Đông Nam Á. Trong công nghiệp chế tạo, THACO xây dựng hệ sinh thái sản xuất ô tô và cơ khí lớn; VinFast trở thành nhà sản xuất ô tô điện đầu tiên của Việt Nam, niêm yết trên Nasdaq và triển khai bán xe ở nhiều thị trường; Hòa Phát vươn lên thành nhà sản xuất thép hàng đầu Đông Nam Á.

Trong công nghệ, FPT trở thành một trong những doanh nghiệp công nghệ thông tin lớn của khu vực, đầu tư mạnh vào chuyển đổi số, AI và bán dẫn. Trong hàng tiêu dùng, Vinamilk, Masan xây dựng thương hiệu có sức cạnh tranh khu vực. Trong hạ tầng và bất động sản, Vingroup, Sun Group, BRG và nhiều tập đoàn khác đã đầu tư quy mô lớn, góp phần thay đổi diện mạo nhiều vùng kinh tế.

Khu vực tư nhân cũng thể hiện sức chống chịu tốt trong đại dịch, phản ứng nhanh trước đứt gãy chuỗi cung ứng, đồng thời tham gia ngày càng tích cực vào an sinh, giáo dục, y tế và phát triển cộng đồng. Đáng chú ý nhất là một thế hệ doanh nhân đã gây dựng sự nghiệp từ hai bàn tay trắng trong điều kiện thể chế chưa hoàn thiện và nhiều định kiến xã hội.

Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn còn nhiều nghịch lý. Doanh nghiệp đông nhưng chưa mạnh, năng động nhưng chưa sâu, đóng góp lớn nhưng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu còn khiêm tốn.

Cơ cấu ngành nghề mất cân đối, khi phần lớn doanh thu của nhóm doanh nghiệp tư nhân lớn nhất đến từ tài chính và bất động sản, trong khi công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng thấp. Gần 97% doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn có quy mô dưới 10 lao động, bên cạnh đó còn khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể.

Quy mô quá nhỏ khiến doanh nghiệp khó đầu tư đổi mới công nghệ. Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam có liên hệ với chuỗi giá trị toàn cầu giảm mạnh. Năng suất lao động của khu vực ngoài nhà nước thấp hơn nhiều so với khu vực nhà nước và FDI. Đầu tư cho R&D còn hạn chế, và nhiều doanh nghiệp vẫn vận hành theo mô hình gia đình, thiếu minh bạch và quản trị chuyên nghiệp.

Kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cho thấy không có nền kinh tế nào thành công trong chuyển đổi mô hình phát triển nếu thiếu một khu vực tư nhân mạnh. Doanh nghiệp phải lớn mạnh mới có thể đầu tư lớn, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

Tận dụng ngoại lực là cần thiết, nhưng nội lực phải được phát triển và tăng cường để dần thay thế nguồn lực bên ngoài. Vai trò của nhà nước không phải là can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh, mà là kiến tạo môi trường cạnh tranh, hỗ trợ hình thành năng lực nội sinh và chia sẻ tầm nhìn dài hạn với doanh nghiệp.

Trong giai đoạn tới, để các tập đoàn tư nhân có thể dẫn dắt nền kinh tế, cần chuyển dịch mạnh từ bất động sản và tài chính sang sản xuất và công nghệ; đẩy mạnh đầu tư vào R&D và đổi mới sáng tạo; xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ; phát triển thị trường vốn chiều sâu; nâng cao năng lực quản trị, chuyên nghiệp hóa; và có chiến lược quốc tế hóa.

Đồng thời, cần chú ý đến an toàn thể chế, bảo vệ quyền tài sản, hạn chế hình sự hóa quan hệ kinh tế; tránh bẫy phụ thuộc FDI; giảm rủi ro từ mô hình tăng trưởng đa ngành thiếu chiều sâu; và hình thành những doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị trong từng ngành công nghiệp.

Tóm lại, 40 năm qua là hành trình trưởng thành rất lớn của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Nhưng mục tiêu đến 2030 và tầm nhìn 2045 không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp hay quy mô GDP, mà là hình thành một lớp doanh nghiệp tư nhân có năng lực công nghệ, khả năng dẫn dắt ngành và vị thế trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, để thực sự chuyển từ vai trò tham gia tăng trưởng sang vai trò dẫn dắt hiện đại hóa đất nước.

SHB lớn lên cùng các trụ đỡ và hệ sinh thái của nền kinh tế

Ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc SHB: Nhìn lại chặng đường phát triển, SHB chưa bao giờ lựa chọn một hướng đi ngắn hạn hay tách rời khỏi nhu cầu phát triển của đất nước. Ngay từ sớm, ngân hàng đã xác định gắn sự phát triển của mình với các lĩnh vực nền tảng của nền kinh tế như năng lượng, khai khoáng, nông nghiệp, công nghiệp, hạ tầng, hóa chất, thương mại và xuất khẩu. Đây đều là những lĩnh vực có ý nghĩa cốt lõi đối với tăng trưởng, ổn định sản xuất, an ninh nguyên liệu và năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc SHB.

Dấu ấn của SHB trong giai đoạn này là dấu ấn của một ngân hàng hiện diện trong các lĩnh vực thiết yếu, góp phần bảo đảm dòng vốn cho sản xuất, cho đầu tư và cho nền kinh tế thực. Cách lựa chọn đó phản ánh một định hướng chiến lược rõ ràng: Lớn lên cùng nền kinh tế, phát triển cùng các trụ đỡ của đất nước, thay vì chỉ đi theo những cơ hội kinh doanh ngắn hạn.

Khi nền kinh tế bước sang giai đoạn cần những doanh nghiệp lớn, những tập đoàn và tổng công ty có vai trò dẫn dắt tăng trưởng, SHB tiếp tục khẳng định lựa chọn chiến lược của mình bằng việc hợp tác, cung ứng sản phẩm và dịch vụ cho nhiều đối tác lớn như TKV, VRG, Tasco, Vinachem, BSR cùng nhiều doanh nghiệp đầu ngành khác. Điều quan trọng ở đây không chỉ là danh mục đối tác, mà là logic đồng hành.

SHB không chỉ đi cùng từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà đồng hành với những thực thể kinh tế có khả năng lan tỏa tới ngành, tới chuỗi giá trị và tới toàn bộ nền kinh tế. Một dấu mốc quan trọng trong hành trình phát triển của SHB là mở rộng vai trò từ cấp tín dụng sang đồng hành bằng giải pháp tài chính tổng thể.

SHB không chỉ cung ứng vốn, mà còn phát triển các giải pháp thanh toán, quản lý dòng tiền, tài trợ chuỗi cung ứng, giải pháp số và đồng hành cùng hoạt động vận hành tài chính tổng thể của doanh nghiệp. Một dấu ấn nổi bật khác là sự thay đổi trong cách tiếp cận khách hàng.

Từ chỗ phục vụ một doanh nghiệp trung tâm, SHB mở rộng hỗ trợ sang toàn bộ hệ sinh thái liên quan, bao gồm công ty thành viên, nhà cung cấp, nhà phân phối, đại lý, đối tác, người lao động và khách hàng cuối. Đây chính là bước chuyển từ "phục vụ doanh nghiệp" sang "đồng hành cùng hệ sinh thái".

Ý nghĩa của sự chuyển dịch này rất lớn. Điều đó cho thấy SHB không chỉ quan tâm tới một pháp nhân hay một quan hệ giao dịch riêng lẻ, mà hướng tới toàn bộ chuỗi giá trị và mạng lưới liên kết mà khách hàng dẫn dắt. Nói cách khác, SHB không chỉ đi cùng một khách hàng, mà đi cùng cả không gian tăng trưởng xoay quanh khách hàng đó. Đây là nền tảng quan trọng để ngân hàng phát triển theo chiều sâu và tạo ra giá trị lan tỏa mạnh mẽ hơn.

Bước vào giai đoạn đất nước chuyển sang kỷ nguyên phát triển mới, SHB cũng xác lập rõ vị thế mới của mình: trở thành ngân hàng hàng đầu trong cung ứng nguồn vốn, sản phẩm và dịch vụ cho các đối tác chiến lược, các doanh nghiệp lớn có hệ sinh thái, chuỗi cung ứng và tập khách hàng cá nhân rộng lớn.

Trung tâm của chiến lược tương lai này là mô hình hệ sinh thái (ecosystem). Để vận hành mô hình đó ở quy mô lớn, SHB xác lập chiến lược công nghệ tài chính với 5 nguyên tắc FIRST làm nền tảng: Data + AI First, People First, Cloud First, Security First, Mobile First. Đây là hệ nguyên tắc giúp SHB tái thiết mô hình ngân hàng trong bối cảnh số hóa ngày càng mạnh mẽ.

Nhìn lại toàn bộ mạch phát triển, có thể thấy SHB không chỉ là một ngân hàng thương mại phát triển theo quy mô. SHB là một ngân hàng đã lựa chọn đứng trong dòng chảy lớn của đất nước, đồng hành cùng các ngành nền tảng, các doanh nghiệp đầu tàu và những hệ sinh thái kinh tế có sức lan tỏa.

Từ việc dẫn vốn cho nền kinh tế thực, mở rộng sang giải pháp tài chính tổng thể, chuyển từ phục vụ doanh nghiệp sang đồng hành cùng hệ sinh thái, đến tăng trưởng trên nền tảng công nghệ và mô hình hệ sinh thái, SHB đang từng bước định hình một vai trò sâu sắc hơn trong cấu trúc phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, vai trò của ngân hàng không còn dừng ở cung ứng vốn. Ngân hàng phải là cầu nối nguồn lực, là đối tác chiến lược, là chủ thể kiến tạo giá trị và là một bộ phận của hệ sinh thái tăng trưởng. SHB đang lựa chọn đúng vai trò đó.

Và từ đó, thông điệp "SHB - Ngân hàng tầm vóc quốc gia thế hệ mới" không chỉ là sự khẳng định vị thế, mà còn là cam kết về hướng đi: song hành cùng đất nước, đồng hành cùng doanh nghiệp, kiến tạo các hệ sinh thái tăng trưởng, góp phần xây dựng một Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, tự cường và thịnh vượng.

Huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính cho các tập đoàn kinh tế trong bối cảnh mới

Ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch HĐQT FiinGroup: Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới với nhu cầu vốn lớn (38,5 triệu tỷ đồng cho giai đoạn 5 năm tới). Câu hỏi lớn nhất đối với doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước là làm thế nào để huy động vốn thành công, giá hợp lý, đảm bảo phát triển bền vững trong tương lai.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam có tăng trưởng GDP cao nhưng không đồng nghĩa với việc tăng trưởng doanh thu đồng đều của các doanh nghiệp trong nước. Chúng ta cần những giải pháp để phát triển đồng bộ doanh nghiệp nội địa Việt Nam có quy mô lớn, hiệu quả và đồng điệu với tăng trưởng kinh tế trong những năm tới đây.

Trong khu vực, chỉ có Việt Nam và Thái Lan đặc điểm chung là doanh nghiệp FDI đóng góp tăng trưởng lớn và doanh nghiệp FDI gần như vắng bóng trên thị trường chứng khoán.

Ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch HĐQT FiinGroup. Ảnh: A Huy.

Tôi thực lòng không mong muốn 5 năm hay 10 năm tới, kinh tế Việt Nam tăng trưởng hai chữ số nhưng doanh nghiệp Việt Nam lại thụt lùi. Nhu cầu vốn trong thời gian lớn, bình quân mỗi năm khoảng 8 triệu tỷ đồng, đầu tư công lớn nhưng tín dụng ngân hàng không còn nhiều dư địa. Đầu tư cho dự án lớn cần dựa trên nguồn vốn trung và dài hạn.

Vốn FDI tập trung nhiều vào chất lượng hơn là số lượng, tôi kỳ vọng Việt Nam vẫn là tâm điểm thu hút dòng vốn này dù xung đột Trung Đông hay thuế quan. Dòng vốn từ M&A còn nhỏ nhưng có thể duy trì. Vốn từ IPO năm vừa qua đạt lớn, tôi kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng. Đây là dòng vốn thật, trung dài hạn. Việt Nam vừa được nâng hạng thì sẽ nhận được sự quan tâm của các quỹ, qua đó hoạt động IPO, thoái vốn sôi động.

Vốn vay nước ngoài, môi trường quốc tế các năm vừa qua không tốt, chúng tôi kỳ vọng dòng vốn có thể dương thời gian tới sau khi ổn định hơn. Kênh huy động vốn từ trái phiếu cũng mới phục hồi, giá trị nếu trừ ngân hàng ra thì không lớn. Nhiều người nói khả năng huy động vốn của Việt Nam khó khăn nhưng tôi tin rằng nếu chúng ta có sự cải cách thì có thể huy động được.

Câu hỏi lớn nhất hôm nay không còn là "làm sao huy động thêm vốn", mà là "làm sao mỗi đồng vốn tạo ra nhiều giá trị hơn" và câu trả lời sẽ quyết định vị thế của các tập đoàn kinh tế Việt. Việt Nam có rất nhiều ngành nghề kinh doanh tốt nhưng rủi ro về tái cơ cấu vốn rất cao như nước, rác thải, điện, hạ tầng có thời gian hoàn vốn rất dài nhưng lại vay ngắn hạn để tài trợ. Đây là vấn đề cần lưu ý.

Các doanh nghiệp tư nhân lớn có mức độ đòn bẩy tài chính cao hơn doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Ngược lại, DNNN duy trì đòn bẩy thấp nhưng hiệu quả thấp. Các tổ chức nước ngoài đến Việt Nam rất muốn cho DNNN vay nhưng vấn đề là lãi suất bao nhiêu.

Do vậy, Việt Nam cần phải nâng xếp hạng tín nhiệm của đất nước sớm, trước 2030. Mấu chốt của DNNN là hiệu quả hoạt động. Nghị quyết 79 hiện nay đã chỉ ra và có nhiều giải pháp cải thiện nhất là về công tác quản trị doanh nghiệp.

Các DNNN có thể phát huy tốt hơn vai trò vốn mồi, nhằm giảm thiểu rủi ro trong giai đoạn triển khai dự án ban đầu Gợi ý một số nhóm giải pháp (tập dung vào mục tiêu huy động vốn):

Thứ nhất, cải thiện tính hấp dẫn (Bankability) của các dự án lớn. Hiện vấn đề lớn khi các dự án tiếp cận vốn ngoài ngân hàng là tính "bankability" còn thấp. Cơ chế chính sách nhằm ổn định và nhất quán (giải bài toán "policy risk"). Thiết kế và triển khai cấu trúc tài chính khả thi, bao gồm project financing (tài trợ dự án) với việc tập trung các ngành trọng điểm, chiến lược. Kinh nghiệp quốc tế là không nên làm dự án riêng lẻ mà gộp danh mục dự án.

Thứ hai, cải cách mạnh mẽ hơn nữa thị trường vốn. Hiện Bộ Tài chính đã có đề án tái cơ cấu nhà đầu tư trên TTCK. Hiệu quả triển khai sẽ cao hơn nếu như phát triển thị trường TPDN vào chiều sâu, để nhiều doanh nghiệp ngoài ngân hàng tham gia hơn và sản phẩm chứng khoán nợ/chào bán đại chúng. Một điểm mấu chốt là cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia nhằm giúp cả Chính phủ và doanh nghiệp huy động vốn Nhà nước ở chi phí thấp hơn.

Thứ ba, Chính phủ dẫn dắt việc thành lập các quỹ đầu tư quốc gia. Hiện Việt Nam đã có đề án thành lập quỹ nhà ở quốc gia. Sẽ rất tốt cho giải bài toán vốn nếu Chính phủ có thể nghiên cứu và xem xét mô hình: Quỹ Đầu tư Hạ tầng: giải bài toán vốn dài hạn cho các nhóm dự án hạ tầng; Quỹ Tăng trưởng Quốc Gia: Hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế cao như một số nước đã làm.

THỰC TIỄN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ DẪN DẮT CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

Tại phiên thảo luận I với chủ đề: Thực tiễn hình thành, phát triển và vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế. TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch VAFIE là người điều phối. Các diễn giả:

- PGS-TS. Trần Đình Thiên, Thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ

- Ông Nguyễn Văn Phúc, Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội

- Ông Nguyễn Hải Minh, Phó chủ tịch EuroCham

- Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế, Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI)

- PGS. Nguyễn Thành Hiếu, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

- Ông Lê Khắc Hiệp, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup

- Ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch HĐQT, Phó TGĐ Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB)

- Ông Nguyễn Duy Hưng, Thành viên HĐQT Tập đoàn Tân Hiệp Phát

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Trong phiên I, hội thảo đã lắng nghe 3 phát biểu gợi mở và 4 tham luận, cung cấp khá đầy đủ những góc nhìn về vấn đề phát triển các tập đoàn kinh tế. Với những mục tiêu đã đặt ra, tôi kỳ vọng phiên thảo luận này sẽ diễn ra sôi nổi và đi thẳng vào những câu hỏi cốt lõi.

Thứ nhất, đánh giá thực trạng phát triển của nền kinh tế Việt Nam ở cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân.

Thứ hai, xác định rõ vai trò của các tập đoàn lớn với tư cách những "cánh chim đầu đàn", dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam phát triển trong giai đoạn mới.

Thứ ba, nhận diện rõ các rào cản, điểm nghẽn trong quá trình phát triển các tập đoàn kinh tế, từ đó đề xuất các khuyến nghị và giải pháp chính sách phù hợp.

Ban Tổ chức đặc biệt mong muốn các diễn giả đi sâu vào một vấn đề đã được đặt ra từ lâu nhưng chuyển động còn chậm, đó là: Làm thế nào để liên kết hiệu quả các doanh nghiệp lớn với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), hình thành hệ sinh thái để SME tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị?

Chính sách cho mục tiêu này đã được đề cập từ nhiều năm nay, song kết quả vẫn còn hạn chế. Vậy nguyên nhân nằm ở đâu: do chất lượng thiết kế chính sách, khâu tổ chức thực thi, hay do thiếu cơ chế chế tài đủ mạnh?

Câu hỏi đầu tiên của phiên thảo luận, xin được trân trọng gửi tới PGS-TS. Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, theo ông, đường lối của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước đã "tiến hóa" như thế nào trong nhận thức và định vị vị trí, vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân ở các khu vực kinh tế? Và sự chuyển biến đó đang mở ra những cơ hội cũng như yêu cầu gì cho việc hình thành các tập đoàn kinh tế dẫn dắt trong giai đoạn phát triển mới?

TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch VAFIE điều phối phiên thảo luận. Ảnh: A Huy.

Muốn trở thành cường quốc phải có những tập đoàn kinh tế mạnh

PGS-TS. Trần Đình Thiên: Chúng ta đặt ra vấn đề về tập đoàn kinh tế tư nhân, vậy số phận và vai trò của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay đang ở đâu? Anh Lê Khắc Hiệp đã nêu trường hợp VinFast như một ví dụ cụ thể của kinh tế tư nhân.

Nhưng câu chuyện hôm nay, trong bối cảnh 40 năm Đổi mới, không chỉ là một trường hợp đơn lẻ, mà là vấn đề của cả cấu trúc phát triển thị trường của nền kinh tế hiện đại Việt Nam.

Chúng ta đều xác định phát triển dựa trên cả kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, nhưng hiệu quả chưa cao. Vậy nguyên nhân là gì? Theo tôi, cần nhìn vào cấu trúc lực lượng của nền kinh tế, trong đó lực lượng doanh nghiệp Việt Nam chưa được quan tâm phát triển đúng nghĩa.

Ở đây, không chỉ là câu chuyện số lượng doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là cấu trúc doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò gì, doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò gì, khu vực FDI đóng vai trò gì. Kinh nghiệm phát triển của các quốc gia cho thấy, muốn trở thành cường quốc kinh tế thì phải có những tập đoàn kinh tế mạnh. Việt Nam cũng mong muốn đi theo con đường đó và thực tế đã tiến rất gần tới ngưỡng cần bứt phá. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp nội địa của chúng ta vẫn đang đối mặt với rất nhiều vấn đề.

Luận đề thứ nhất là: Muốn trở thành cường quốc kinh tế thì phải có những tập đoàn kinh tế mạnh, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế tư nhân hùng mạnh. Không chỉ là những tập đoàn có quy mô quốc gia, mà còn phải là những doanh nghiệp đủ năng lực cạnh tranh toàn cầu, từng bước trở thành các tập đoàn xuyên quốc gia hoặc đa quốc gia.

Luận đề thứ hai là: Nền kinh tế hiện đại vận hành theo chuỗi, mà muốn hình thành chuỗi thì phải có các tập đoàn dẫn dắt.

Đây là câu chuyện sống còn. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, để tạo nên "thần kỳ kinh tế", cần có một Nhà nước thông minh, kiến tạo, đồng thời phải có khu vực tư nhân đủ mạnh để đảm đương vai trò đầu tàu. Việt Nam cần đặc biệt chú ý kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.

PGS-TS. Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. Ảnh: A Huy.

Thực tế cho thấy Đông Bắc Á tạo ra những kỳ tích phát triển, trong khi Đông Nam Á, với mô hình phát triển thiếu các trụ cột đủ mạnh, đã không tạo được "thần kỳ" tương tự. Nếu Việt Nam muốn trở thành một trường hợp khác biệt, thì phải lý giải được vì sao khoảng cách phát triển giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á ngày càng nới rộng. Trung Quốc là một ví dụ đáng suy ngẫm.

Sau nhiều thập niên cải cách, quốc gia này đã khẳng định vị thế bằng hàng loạt tập đoàn lớn có sức cạnh tranh mạnh. Cấu trúc phát triển của khu vực tư nhân là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên bước nhảy vọt đó. Kinh nghiệm từ Nhật Bản cũng rất đáng chú ý.

Nhật Bản xây dựng được cơ cấu công nghiệp nhiều tầng, gồm doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Nếu không có cấu trúc đó, Nhật Bản khó có thể tạo nên kỳ tích kinh tế. Doanh nghiệp lớn giữ vai trò trụ cột, còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia mạng lưới công nghiệp hỗ trợ, tạo nên một hệ sinh thái cạnh tranh nhiều tầng, rất khốc liệt nhưng cũng rất hiệu quả.

Đối với Hàn Quốc, bài học quan trọng là mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Có những tập đoàn nhà nước lớn không chỉ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, mà còn làm nhiệm vụ tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân kinh doanh có lợi hơn. Họ đảm đương những khâu khó thu lợi nhuận trực tiếp, giúp bảo đảm chi phí vốn và các yếu tố đầu vào ở mức hợp lý cho khu vực tư nhân. Chính vì vậy, các tập đoàn tư nhân ra đời sau mới có điều kiện để lớn mạnh và thành công.

Từ đó có thể thấy, để hướng tới một nền kinh tế phát triển bứt phá, Việt Nam cần đáp ứng một số điều kiện. Trước hết, phải nắm đúng thời đại, tức là đúng thời điểm cho phép vượt trần công nghệ. Việt Nam đang bước vào đúng thời đại như vậy; nếu bỏ lỡ, chúng ta có thể đánh mất cơ hội lịch sử. Nhật Bản, Hàn Quốc đã từng vượt trần công nghệ trong những giai đoạn quyết định của mình. Nhưng điều đáng chú ý là chính các tập đoàn tư nhân mạnh đã góp phần đục thủng trần công nghệ ấy, còn Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ và kiến tạo.

Vì vậy, Việt Nam phải có những tập đoàn tư nhân lớn của quốc gia, nhưng không phải lớn theo nghĩa hình thức, mà phải là lực lượng dẫn dắt chuỗi, có sứ mệnh vươn lên thành các TNCs hoặc MNCs trong tương lai. Một so sánh nhanh cũng cho thấy tốc độ thay đổi của thời đại là rất lớn. Trong top 10 doanh nghiệp vốn hóa lớn nhất thuộc S&P 500 của Hoa Kỳ giai đoạn 2010 và 2024, có tới khoảng 70% doanh nghiệp đã thay đổi vị trí.

Điều đó cho thấy các tập đoàn có thể trở thành khổng lồ với tốc độ rất nhanh trong thời đại mới. Nếu chúng ta vẫn chỉ nuôi dưỡng các tập đoàn theo mô hình công nghiệp cổ điển như xi măng, sắt thép mà không chuyển mạnh sang công nghệ và các ngành mới, thì sẽ rất khó bắt nhịp với thời đại. Có thể thấy, năm 2010, 10 doanh nghiệp lớn nhất chiếm khoảng 18,6% vốn hóa S&P 500, nhưng đến năm 2024, tỷ lệ này đã tăng lên 38,2%. Điều đó phản ánh xu hướng tập trung sức mạnh rất mạnh mẽ trong nền kinh tế hiện đại.

Vậy vấn đề của Việt Nam là gì? Theo tôi, một trong những điểm nghẽn là chúng ta vẫn còn đâu đó định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.

Đại biểu tại hội thảo. Ảnh: A Huy.

Việt Nam chậm hình thành một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, khiến khu vực tư nhân trong nhiều giai đoạn bị trói buộc. Doanh nghiệp Việt Nam vốn đã trẻ, nhỏ và yếu, nếu tiếp tục bị ràng buộc quá mức thì rất khó trưởng thành. Vấn đề xây dựng lực lượng doanh nghiệp dân tộc là cực kỳ quan trọng. Nếu tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp Việt Nam còn quá ngắn, thì làm sao có thể hình thành các doanh nghiệp lớn, đủ sức trở thành trụ cột? Hiện nay, lực lượng doanh nghiệp trụ cột của chúng ta vẫn còn quá mỏng.

Trong khi đó, nền kinh tế ở trình độ càng cao thì cạnh tranh càng khốc liệt. Chuỗi sản xuất của Việt Nam hiện vẫn yếu, năng lực cạnh tranh toàn cầu còn hạn chế. Sứ mệnh đặt lên vai doanh nghiệp Việt Nam là rất nặng nề: vừa phải chống chịu nhiều tác động khách quan, vừa được giao vai trò là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Điều đó có nghĩa là Nhà nước phải tạo ra những điều kiện thực chất để lực lượng này đủ sức đảm đương sứ mệnh đó. Muốn trở thành cường quốc thì phải có công nghệ. Nhưng phát triển công nghiệp nào, theo hướng nào, là vấn đề phải tính toán kỹ.

Các ngành công nghiệp truyền thống đang đối mặt với sức ép rất lớn, khi chúng ta đứng cạnh những trung tâm sản xuất hàng đầu thế giới, nơi năng lực thương mại và sản xuất ở quy mô lớn đã đi trước rất xa. Vì vậy, lựa chọn chiến lược ưu tiên cho phát triển công nghiệp của Việt Nam phải rất tỉnh táo và có trọng điểm.

Theo tôi, Việt Nam cần định hình lại chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Lâu nay chúng ta thường hỗ trợ dàn trải, giống như “rải thóc cho chim sẻ ăn”, nên kết quả cũng chỉ tạo ra những "chim sẻ". Bây giờ phải chuyển sang cách làm khác: hỗ trợ trên cơ sở các tập đoàn dẫn dắt, chuỗi nào yếu ở đâu thì tập trung hỗ trợ đúng điểm nghẽn đó.

Ví dụ, với chuỗi công nghiệp ô tô, có thể lấy VinFast và Thaco làm những trường hợp trọng điểm. Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ đủ mạnh, đủ rõ, để các doanh nghiệp dẫn dắt này chủ động xác định sẽ kéo theo ai, hỗ trợ mắt xích nào, với mức độ ra sao để tạo hiệu quả lan tỏa. Đồng thời, chính các doanh nghiệp dẫn dắt cũng phải có cam kết rõ ràng về trách nhiệm, hiệu quả và năng lực lan tỏa đối với toàn chuỗi.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI: Về mặt thống kê, tôi cho rằng khi góp ý liên quan đến Nghị quyết 68, ngay từ khâu dự thảo, điều rất quan trọng là phải xây dựng được một hệ thống thống kê thật tốt để trả lời những câu hỏi nền tảng: Doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành nghề gì, mức độ gia nhập và rút lui khỏi thị trường ra sao, lý do doanh nghiệp rời khỏi thị trường là gì, và tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp như thế nào.

Chúng ta phải có một hệ thống thống kê đủ chi tiết, đủ tin cậy và có khả năng phân tổ sâu, khi đó mới có thể đánh giá chính xác sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp, biết ngành nghề nào đang hấp dẫn, ngành nào đang gặp khó khăn. Rất tiếc là trong nhiều năm qua, chúng ta vẫn chưa có được những bộ số liệu đủ tin cậy như vậy.

Hàng năm, chúng ta thường nghe thông tin rằng có hàng chục nghìn doanh nghiệp rời khỏi thị trường, nhưng câu hỏi quan trọng là: Họ là ai, rời đi vì nguyên nhân gì? Do thị trường thu hẹp, do thiếu vốn, do khó khăn về đất đai, hay do các rào cản thủ tục? Thực tế là chúng ta chưa có câu trả lời rõ ràng.

Ông Đậu Anh Tuấn. Ảnh: A Huy.

Một doanh nghiệp đóng cửa, lặng lẽ rời khỏi thị trường, nhiều khi không ai biết, cũng không ai quan tâm đầy đủ đến nguyên nhân. Trong khi đó, các số liệu được công bố vẫn còn quá chung chung. Hiện nay, chúng ta đang nhìn nền kinh tế qua những con số tổng hợp, chưa tách biệt rõ theo từng khu vực và từng nhóm doanh nghiệp.

Ví dụ, với khu vực FDI, quý I/2026, tỷ trọng xuất nhập khẩu của khối này đã lên tới khoảng 75%, đồng nghĩa khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 25%. Vấn đề đặt ra là tại sao lại có sự dịch chuyển như vậy? Có ngành nghề nào khu vực tư nhân trong nước đang gia tăng thị phần hay không?

Những câu hỏi như vậy gần như chưa được khai thác đầy đủ, chưa thấy nhiều phân tích chuyên sâu, mà chủ yếu mới dừng ở các con số tăng trưởng chung. Không chỉ ở cấp Trung ương mà ở địa phương cũng tồn tại vấn đề tương tự.

Trong quá trình làm việc với các địa phương, chúng tôi nhận thấy không ít lãnh đạo tỉnh chưa nắm rõ số doanh nghiệp thực sự đang hoạt động trên địa bàn là bao nhiêu. Phần lớn vẫn dựa trên số liệu đăng ký kinh doanh, trong khi trong đó có thể bao gồm rất nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động hoặc tồn tại trên giấy.

Những con số về doanh nghiệp đăng ký thường rất đẹp, nhưng các chỉ tiêu phản ánh thực chất hơn như số doanh nghiệp đang nộp thuế, có lợi nhuận, có sử dụng lao động, có mở rộng đầu tư… lại chưa được quan tâm đúng mức.

Vì vậy, theo tôi, một giải pháp rất quan trọng để phát triển khu vực kinh tế tư nhân là phải xây dựng được hệ thống thống kê phù hợp và phản ánh đúng thực tiễn, từ đó chính sách đưa ra mới có thể chính xác. Tôi cũng cho rằng, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cần được nhìn theo từng nhóm để đánh giá đúng thực trạng.

Hiện nay, chúng ta có một số tập đoàn lớn với mức độ tự tin và khả năng thích ứng khá cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó là khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và các hộ kinh doanh - nhóm đang gặp rất nhiều khó khăn, lợi nhuận thấp và phải vật lộn để tồn tại.

Trong quá trình thúc đẩy minh bạch hóa tài chính và thuế, tôi cho rằng chủ trương là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, nếu có lộ trình phù hợp hơn, đi kèm với các chương trình hỗ trợ về kế toán, thuế, chuyển đổi số và tiếp cận tín dụng, thì sẽ tốt hơn. Hiện nay, nhiều hộ kinh doanh đang chịu áp lực lớn, và quá trình chuyển đổi đang diễn ra khá nhanh.

Đối với doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, số lượng hiện nay còn rất ít. Cơ cấu doanh nghiệp đang có đặc điểm là chỉ có một vài doanh nghiệp lớn, rất nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ, nhưng lại thiếu hẳn tầng doanh nghiệp quy mô vừa - tức nhóm doanh nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh, có vị trí trong chuỗi sản xuất và có khả năng vươn lên thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2. Đây là một điểm yếu rất lớn của khu vực tư nhân Việt Nam.

Nhiều nghiên cứu cho thấy năng lực cạnh tranh của nhóm doanh nghiệp này còn hạn chế, một phần vì họ rất khó tham gia vào chuỗi giá trị. Ví dụ, các tập đoàn nước ngoài có thể đầu tư sẵn nhà máy, cơ sở vật chất, hệ thống tiêu chuẩn, sau đó mới đi tìm hợp đồng.

Doanh nghiệp Việt Nam thường phải có hợp đồng trước rồi mới dám đầu tư. Với cách tiếp cận như vậy, khả năng cạnh tranh sẽ rất khó. Doanh nghiệp nước ngoài có vốn mạnh, chuẩn bị sẵn mọi điều kiện và có thể tham gia đấu thầu ở nhiều nơi cùng lúc.

Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam lại bị hạn chế bởi vốn, đất đai, thủ tục và nhân lực. Vì vậy, cơ hội để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trở thành nhà cung cấp trong chuỗi của các tập đoàn lớn vẫn còn rất khó khăn. Tôi khá lo ngại về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa trong lĩnh vực sản xuất, cũng như khu vực doanh nghiệp nhỏ đông đảo hiện nay.

Ngược lại, với nhóm doanh nghiệp lớn, tôi có mức độ lạc quan cao hơn, bởi họ có nguồn lực, có động lực phát triển và đang được hưởng một môi trường kinh doanh ngày càng cởi mở hơn. Tóm lại, doanh nghiệp tư nhân cần được phân nhóm rõ ràng để đánh giá đúng thực trạng, từ đó thiết kế chính sách hỗ trợ trúng nhóm đối tượng và đúng vấn đề.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Qua trao đổi của PGS.TS. Trần Đình Thiên, tôi cũng muốn gợi mở thêm một số vấn đề để các diễn giả cùng suy nghĩ và thảo luận. Thứ nhất, có lẽ chúng ta đều đồng thuận rằng không thể có một cường quốc kinh tế nếu không có những tập đoàn kinh tế mạnh.

Thứ hai, PGS.TS. Trần Đình Thiên có chia sẻ câu chuyện Hàn Quốc và cho rằng ở một số khía cạnh, khu vực FDI có thể tạo sức ép hoặc lấn át doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, Hàn Quốc chỉ là một trong bốn nền kinh tế công nghiệp mới của châu Á.

Bên cạnh đó còn có Singapore và Đài Loan (Trung Quốc) - những nền kinh tế cũng chịu tác động rất lớn từ dòng vốn FDI, đồng thời biết tận dụng hiệu quả nguồn lực này để phát triển. Vậy câu hỏi đặt ra là: Việt Nam nên học ai, và học điều gì từ các mô hình đó? Đây là vấn đề rất đáng để các diễn giả cùng trao đổi thêm. Một điểm nữa, liên quan đến câu chuyện phân biệt đối xử với kinh tế tư nhân.

Tôi nhớ rằng từ năm 1986, các nghị quyết của Trung ương Đảng đã đặt vấn đề phải xóa bỏ tư tưởng kỳ thị đối với kinh tế tư nhân. Vậy tại sao sau 40 năm, đến nay vẫn còn những luồng ý kiến nhắc lại câu chuyện này? Phải chăng trong thực tế, doanh nghiệp tư nhân vẫn còn cảm nhận được sự phân biệt đối xử ở đâu đó?

Đây cũng là điều cần được nhìn nhận thẳng thắn. Cuối cùng, sự trưởng thành của VinFast có thể xem là một hiện tượng rất đáng chú ý của Việt Nam, thậm chí có thể coi là một hiện tượng mang tính đột phá.

Vậy thành công của VinFast bắt nguồn từ đâu: từ cơ chế, chính sách của Nhà nước; từ năng lực tự thân của doanh nghiệp; hay từ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố khác? Xin được mời ông Lê Khắc Hiệp trao đổi về vấn đề này.

VinFast lớn nhanh nhờ văn hóa áp lực và những deadline không tưởng

Ông Lê Khắc Hiệp, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup: Để hiểu được sự phát triển nhanh của VinFast, cần nhìn lại lịch sử phát triển của Tập đoàn Vingroup. Trước khi bước vào lĩnh vực ô tô, Vingroup đã phát triển mạnh ở nhiều lĩnh vực như bất động sản, du lịch, y tế, bán lẻ…

Chủ tịch Tập đoàn, ông Phạm Nhật Vượng, luôn trăn trở rằng nếu chỉ tập trung vào những lĩnh vực này, Vingroup mới chỉ góp phần nâng cao tiêu chuẩn sống của người Việt và dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước đi theo.

Tuy nhiên, tư duy của ông Vượng là nếu chỉ dừng ở đó thì Việt Nam sẽ rất khó hội nhập sâu vào chuỗi giá trị quốc tế. Chính vì vậy, Vingroup đã lựa chọn ô tô là lĩnh vực đột phá. Đây là tầm nhìn chiến lược của Tập đoàn cũng như của người đứng đầu. Muốn một đất nước phát triển, trước hết phải có nền công nghiệp phát triển.

Ông Lê Khắc Hiệp, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup. Ảnh: A Huy.

Hầu hết các quốc gia phát triển hiện nay đều sở hữu ngành công nghiệp ô tô mạnh, bởi đây là ngành có khả năng dẫn dắt hàng loạt lĩnh vực khác như cơ khí chính xác, cao su, vật liệu, điện tử và công nghệ. Một chiếc ô tô ngày nay đã trở thành một sản phẩm công nghệ tích hợp, chứ không còn đơn thuần là một phương tiện có động cơ như trước.

Vậy vì sao Vingroup có thể tạo ra tốc độ phát triển mang tính đột phá như vậy? Theo tôi, yếu tố cốt lõi nằm ở quyết tâm và sức ép rất lớn từ lãnh đạo Tập đoàn. Chúng tôi đã quen với văn hóa phát triển dựa trên những mốc giới hạn rất khắt khe về thời gian và không gian.

Ở thời điểm ban đầu, nhiều cột mốc được đặt ra gần như không ai tin có thể hoàn thành. Nhưng theo thời gian, chính những giới hạn đó liên tục được rút ngắn hơn nữa. Đơn cử, một dự án trước đây có thể mất khoảng 2 năm để hoàn thành, thì về sau thời gian triển khai được kéo xuống chỉ còn 1-1,5 năm.

Người đứng đầu Tập đoàn liên tục đặt ra các deadline gấp hơn, khó hơn để tạo áp lực, từ đó hình thành dấu ấn riêng về tốc độ của Vingroup. Một ví dụ tiêu biểu là Trung tâm Triển lãm Quốc gia tại Cổ Loa (Đông Anh).

Một công trình tương tự ở nhiều quốc gia khác có thể mất 3-4 năm để hoàn thành, nhưng Vingroup chỉ mất 10 tháng. Điều đó cho thấy, khi có quyết tâm đủ lớn, cùng với nỗ lực tối đa của cả hệ thống, những mục tiêu tưởng như không thể vẫn có thể đạt được.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Ở góc độ chính sách, xin mời TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn Phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, Ban IV trao đổi thêm: Muốn Việt Nam có những tập đoàn kinh tế đủ tầm khu vực và toàn cầu, chúng ta cần thiết kế chính sách như thế nào? Những nút thắt thể chế nào đang cản trở doanh nghiệp lớn lên, và cần tháo gỡ theo hướng nào để tạo ra lực lượng doanh nghiệp dẫn dắt nền kinh tế?

TS. Bùi Thanh Minh: Đổi mới lần thứ hai phải giải phóng trí tuệ để hình thành các tập đoàn dẫn dắt Năm 2023, khi bắt đầu thống nhất chủ trương xây dựng một đề án về phát triển các doanh nghiệp chủ lực, chúng tôi đã trực tiếp khảo sát tại VinFast, Hòa Phát, Đại Dũng cùng nhiều doanh nghiệp khác.

Khi tư vấn cho lãnh đạo Chính phủ, chúng tôi chỉ nhấn mạnh một vấn đề cốt lõi: Phát triển doanh nghiệp không thể tách rời chiến lược phát triển tổng thể quốc gia. Đến thời điểm này, Việt Nam cần lựa chọn những bài toán quốc gia lớn của thế kỷ 21 mà mình sẽ tham gia và phải có doanh nghiệp đủ năng lực để dẫn dắt.

Chúng tôi đã đề xuất 4 bài toán lớn: Công nghiệp đường sắt; xe điện; năng lượng tái tạo; AI và bán dẫn.

Cho đến hiện nay, các vấn đề này vẫn giữ nguyên tính thời sự. Tuy nhiên, ngay từ đầu, chúng tôi cũng nhìn thấy một thách thức: Nếu xây dựng chính sách xoay quanh câu chuyện doanh nghiệp lớn, trong khi trước đây vẫn tồn tại tâm lý e dè, thậm chí kỳ thị khu vực tư nhân, đặc biệt là lo ngại đối với các doanh nghiệp quy mô lớn, thì chắc chắn sẽ phát sinh không ít vấn đề về truyền thông và dư luận xã hội.

TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn Phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, Ban IV. Ảnh: A Huy.

Thực tế, những người làm chính sách không hề xa lạ với các mô hình quốc tế. Chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ và thấy rằng để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, đặc biệt theo mô hình phát triển Đông Á, có 4 bài học lớn.

Thứ nhất, nền kinh tế phải hướng mạnh ra xuất khẩu, để doanh nghiệp cạnh tranh sòng phẳng ở quy mô toàn cầu, thay vì chỉ dừng ở thay thế hàng nhập khẩu.

Thứ hai, phải có sự tham gia của những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế. Điều này đã được giới học thuật, trong đó có các nghiên cứu của Harvard, đề cập từ sớm khi phân tích con đường phát triển của Việt Nam.

Thứ ba, Nhà nước phải thực sự đóng vai trò kiến tạo phát triển.

Thứ tư, quá trình công nghiệp hóa phải đi theo nấc thang nâng cấp giá trị, bắt đầu từ các ngành có lợi thế xuất khẩu như dệt may, da giày; sau đó chuyển sang điện tử; và tiến lên các lĩnh vực công nghệ cao như AI và bán dẫn - tương tự con đường của Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc và Nhật Bản.

Từ các bài toán đó, chúng tôi xây dựng những đề xuất chính sách tương ứng. Dù vậy, trong giai đoạn đầu, quá trình trao đổi với lãnh đạo cấp cao chưa tạo được bước bứt phá rõ nét. Chỉ đến khi xây dựng Nghị quyết 68, chúng tôi mới có điều kiện tham gia từ khâu đề xuất ban đầu, soạn thảo, biên tập cho đến thể chế hóa.

Một trong những vấn đề cốt lõi mà Nghị quyết 68 đặt ra là giải quyết đồng thời các bài toán về số lượng doanh nghiệp, cấu trúc doanh nghiệp, tình trạng "thiếu tầng doanh nghiệp quy mô trung bình", nhu cầu về doanh nghiệp dẫn dắt, cũng như tiếp tục duy trì mô hình tăng trưởng hướng xuất khẩu nhưng với giá trị gia tăng cao hơn.

Song song với doanh nghiệp lớn, cần xây dựng hệ sinh thái chính sách cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh thay đổi rất nhanh, khi ngay cả doanh nghiệp lớn đôi lúc cũng phản ứng chậm hơn các doanh nghiệp linh hoạt.

Hiện nay, quá trình thể chế hóa Nghị quyết 68 có một số điểm đáng chú ý.

Thứ nhất là mục tiêu hình thành khoảng 20 tập đoàn dẫn dắt có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Sau Nghị quyết 68, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã chủ động đề xuất các bài toán lớn và tham gia sâu hơn vào các chiến lược phát triển địa phương.

Thứ hai, Thủ tướng đã ký quyết định ban hành chương trình "1.000 doanh nghiệp tiên phong", hướng tới các doanh nghiệp mũi nhọn để tạo đột phá cho nền kinh tế, tương tự cách Trung Quốc đã nuôi dưỡng các tập đoàn công nghệ như Huawei hay Xiaomi. Bên cạnh đó là chương trình đào tạo 10.000 CEO nhằm nâng cao năng lực quản trị; cùng với chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cho các dự án kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và ESG, hiện đang trong quá trình hoàn thiện.

Ngoài ra, sắp tới sẽ có Luật Hộ kinh doanh cá thể nhằm xử lý những tồn tại lịch sử trong quản lý khu vực này. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng một mô hình quản lý với chi phí tuân thủ thấp, thân thiện và khuyến khích chuyển đổi, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu thu ngân sách. Tổng thể, Nghị quyết 68 đã bắt đầu giải quyết nhiều vấn đề lớn về cấu trúc, số lượng doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như định hướng các ngành mũi nhọn.

Tuy nhiên, chúng tôi có một khuyến nghị lớn hơn. Việt Nam có 40 năm Đổi mới, nhưng khu vực doanh nghiệp thực chất mới phát triển mạnh khoảng từ năm 1995, tức mới gần 30 năm. Trong khoảng thời gian đó, Việt Nam đã trở thành một quốc gia xuất khẩu tốt, nhưng số doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn hạn chế.

Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có 4 doanh nghiệp trong top 50 Đông Nam Á, trong đó Vingroup là doanh nghiệp tư nhân duy nhất. Nếu Đổi mới lần thứ nhất giúp Việt Nam thoát nghèo nhờ giải phóng sức lao động, thì Đổi mới lần thứ hai phải tập trung vào giải phóng trí tuệ, sức sáng tạo và năng lực khoa học - công nghệ.

Theo tôi, có hai yếu tố then chốt. Thứ nhất là thị trường: Phải vận hành theo cơ chế thị trường một cách triệt để, kể cả trong khu vực công; chính sách hỗ trợ phải dựa trên hiệu quả thực thi của doanh nghiệp, chứ không phải tư duy "chọn sẵn người thắng cuộc".

Thứ hai là thực thi: mọi chính sách cần có KPI rõ ràng, mục tiêu cụ thể và cơ chế giám sát chặt chẽ. Thực tế cho thấy, chính sách hay thì không thiếu, nhưng để đi vào cuộc sống cần sự đồng thuận và phối hợp của toàn xã hội. Một vấn đề rất quan trọng là niềm tin xã hội. Trong những hoàn cảnh đặc biệt như chiến tranh hay đại dịch COVID-19, người Việt Nam thể hiện tinh thần đoàn kết rất cao.

Nhưng trong điều kiện bình thường, mức độ tin cậy lẫn nhau vẫn còn hạn chế. Doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một "tế bào của xã hội", bởi họ tạo việc làm, tạo thu nhập và thực hiện trách nhiệm xã hội. Muốn thay đổi nhận thức này, phải bắt đầu từ việc xây dựng niềm tin. Ngay cả trong quá trình xây dựng chính sách, việc thu thập dữ liệu về doanh nghiệp tư nhân hiện nay vẫn rất khó khăn. Điều đó cho thấy chúng ta còn rất nhiều việc phải làm để hoàn thiện hệ thống dữ liệu và nâng cao chất lượng chính sách.

Xin cảm ơn TS. Bùi Thanh Minh với gợi mở rất thú vị về "Đổi mới lần thứ hai". Nhìn rộng ra cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, một làn sóng chuyển giao thế hệ lãnh đạo đang diễn ra tại nhiều tập đoàn lớn, khi các nhà sáng lập thế hệ 5x, 6x chuyển dần sang vai trò kiến tạo chiến lược, còn thế hệ 8x, 9x bắt đầu tiếp nhận trọng trách điều hành.

Xin mời ông Đỗ Quang Vinh chia sẻ: Trong bối cảnh đó, SHB đang tiếp cận "Đổi mới lần thứ hai" như thế nào? Đâu là lợi thế của một thế hệ lãnh đạo mới, đâu là áp lực của bài toán kế thừa, và SHB đang giải quyết hài hòa giữa di sản - đổi mới - tăng trưởng dài hạn ra sao?

Kế thừa không chỉ là vị trí, mà là tiếp nhận cả một di sản

Ông Đỗ Quang Vinh, Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tổng giám đốc SHB:

Lời đầu tiên cho tôi xin cảm ơn TS. Nguyễn Anh Tuấn về một câu hỏi rất hay. Tôi tin rằng hiện nay, câu chuyện chuyển giao giữa các thế hệ trong doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ.

Là một người thuộc thế hệ kế thừa, với tôi đây vừa là trách nhiệm rất lớn, vừa là một áp lực không nhỏ. Thách thức lớn nhất trong quá trình này, theo tôi, nằm ở khoảng cách trong tư duy và cách tiếp cận giữa thế hệ đi trước và thế hệ kế tiếp. Muốn chuyển giao thành công, các thế hệ phải hiểu nhau nhiều hơn.

Để giải quyết bài toán đó, trước hết cần hiểu rõ vai trò của từng thế hệ trong quá trình chuyển giao. Với tôi, kế thừa không đơn thuần là việc giao lại một vị trí điều hành, mà là trao lại cả một di sản. Với một doanh nghiệp, di sản đó chính là những giá trị được gìn giữ để thế hệ tiếp theo có trách nhiệm tiếp tục phát huy.

Đối với thế hệ đi trước, họ đã dành toàn bộ tâm huyết cho di sản của mình. Họ trưởng thành trong giai đoạn khó khăn nhất của nền kinh tế, khi thiếu đủ thứ: Từ vốn, thể chế cho tới nguồn lực phát triển, nhưng vẫn dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.

Điều mà thế hệ trước để lại không chỉ là quy mô hay vị thế doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là những giá trị cốt lõi: uy tín, tư duy, sự kiên định, bản lĩnh và niềm tin đồng hành cùng sự phát triển của đất nước. Đó là nền tảng văn hóa quý giá mà họ trao lại cho thế hệ sau.

Với thế hệ trẻ, chúng tôi may mắn được lớn lên trong một môi trường thuận lợi hơn, được tiếp cận với nhiều tri thức mới, công nghệ mới và tư duy quản trị hiện đại hơn. Từ những lợi thế đó, thế hệ trẻ có thể tiếp tục tái cấu trúc, sắp xếp lại doanh nghiệp theo hướng hiện đại hơn, nhưng điều quan trọng là không được đánh mất văn hóa và uy tín đã làm nên thương hiệu doanh nghiệp, đặc biệt trong quá trình hội nhập với thế giới.

Thế hệ trẻ ngày nay được đào tạo bài bản hơn, nhưng ở một góc độ nào đó lại có thể thiếu đi sự kiên định, bản lĩnh, niềm tin và trải nghiệm thực tiễn mà thế hệ trước đã tích lũy qua nhiều giai đoạn thử thách.

Đây chính là sự khác biệt lớn nhất giữa các thế hệ. Khi chúng ta hiểu sâu và dung hòa được sức mạnh của cả hai thế hệ để cùng đóng góp cho doanh nghiệp, thì thế hệ trẻ cần nhận thức rõ rằng: tăng trưởng nhanh là cần thiết, nhưng tăng trưởng bền vững mới là yếu tố tiên quyết. Trong giai đoạn thuận lợi, không được chủ quan; còn khi đối diện khó khăn, càng không được từ bỏ.

Cuối cùng, để thế hệ trẻ có thể tiếp tục phát triển doanh nghiệp, chúng tôi rất cần một môi trường thể chế và chính sách đủ thuận lợi, đủ an toàn và đủ khuyến khích đổi mới, để có thể tự tin phát huy năng lực, đồng thời học hỏi kinh nghiệm quốc tế.

Ví dụ như tại Hàn Quốc, nhiều chaebol có thể chuyển giao thành công qua nhiều thế hệ chính là nhờ một hệ thống cơ chế, chính sách tương đối ổn định và thuận lợi, tạo điều kiện để các doanh nghiệp kế thừa tiếp tục phát huy thế mạnh.

Chuyển giao bao giờ cũng cần thời gian, không thể diễn ra trong một sớm một chiều. Khoảng cách giữa hai thế hệ sẽ dần được xóa nhòa nếu doanh nghiệp đó luôn đặt trách nhiệm với khách hàng, với nền kinh tế và với sự phát triển dài hạn lên hàng đầu.

Khi các thế hệ cùng chia sẻ một mục tiêu, một định hướng và một khát vọng lớn, tôi tin rằng khoảng cách thế hệ sẽ không còn là rào cản, mà ngược lại sẽ trở thành sức mạnh giúp doanh nghiệp Việt Nam vươn tầm quốc tế.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Xin cảm ơn ông Đỗ Quang Vinh, tiếp mạch này tham gia cùng chúng ta hôm nay có sự tham dự của ông Nguyễn Hoàng Hải, một doanh nhân trẻ nhưng trải qua nhiều vị trí lãnh đạo các doanh nghiệp lớn. Ông nhìn nhận thế nào về triển vọng, niềm tin vào chính sách ổn định? Khuyến nghị gì cho lớp trẻ - đội quân chủ lực "Đổi mới lần 2"? Rào cản từ thực tiễn doanh nghiệp gặp phải liên quan đến chính sách?

Thời cơ lớn nhất hiện nay nằm ở năng lượng, dữ liệu và năng lực thực thi

Ông Nguyễn Hoàng Hải: Dưới góc nhìn của một người từng điều hành doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và chứng khoán, tôi cho rằng sự xuất hiện của những doanh nghiệp lớn có vai trò dẫn dắt nền kinh tế ở giai đoạn này là một may mắn lớn của đất nước.

Thứ hai, những chính sách đang được ban hành để hỗ trợ cho sự phát triển và đi lên của dân tộc trong thời điểm này, theo tôi, là những chính sách xuất hiện đúng thời điểm, đúng thời cơ và đúng vận hội.

Quan trọng hơn, chúng phù hợp không chỉ với điều kiện phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, mà còn tương thích với bối cảnh nền kinh tế thế giới đang bước vào một chu kỳ phát triển mới với tốc độ rất nhanh, thậm chí siêu nhanh. Nếu không kiểm soát tốt và không đầu tư đúng lúc, rất có thể chúng ta sẽ bỏ lỡ vận hội này.

Doanh nhân Nguyễn Hoàng Hải. Ảnh: A Huy.

Trong bối cảnh hiện nay, theo quan điểm cá nhân của tôi, đầu vào của mọi sự phát triển - từ lớp trẻ cho tới cộng đồng doanh nghiệp - thực chất chỉ còn hai yếu tố cốt lõi, và cả hai đều gắn với công nghệ: năng lượng và dữ liệu.

Chúng ta đã có những nghị quyết và khung chính sách để phát triển các lĩnh vực này. Nhưng để biến tinh thần của các nghị quyết thành những đầu tàu thực sự của nền kinh tế, thành những lực lượng có khả năng định hướng và dẫn dắt, điều quan trọng nhất là phải có năng lực thực thi vô cùng mạnh mẽ.

Theo tôi, chúng ta cần đồng thời nâng cao năng lực triển khai của toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời củng cố niềm tin vào những chính sách đang được hoạch định, đang mở đường để tháo gỡ các hạn chế và ràng buộc lâu nay đối với những nguồn lực tích cực trong nền kinh tế.

Chúng ta đã bắt đầu tháo bỏ một số rào cản liên quan đến cơ chế con người và cơ chế vận hành của nền kinh tế. Nhưng ở giai đoạn này, cần thêm một bước quan trọng hơn nữa, đó là tháo bỏ tư duy cũ để mở ra tư duy mới, từ đó phát triển mạnh năng lực công nghệ cũng như khả năng đi tắt, đón đầu của Việt Nam.

Tất nhiên, đi tắt đón đầu luôn đi kèm với những chi phí và những cái giá phải trả. Trong thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều doanh nghiệp đến rồi rời khỏi thị trường. Điều đó cho thấy trước đây chúng ta có lúc mới chú trọng nhiều đến số lượng doanh nghiệp, mà chưa quan tâm đúng mức tới chất lượng và năng lực đóng góp thực chất.

Ở góc độ nào đó, việc một số doanh nghiệp yếu kém rời khỏi thị trường chưa hẳn là tín hiệu xấu, bởi điều quan trọng là nền kinh tế cần những doanh nghiệp thực sự tạo ra giá trị. Ngược lại, nếu những doanh nghiệp lớn, có vai trò dẫn dắt mà rời khỏi thị trường, đó mới là tổn thất lớn đối với nền kinh tế.

Dưới góc độ một người đã kinh doanh và đồng hành cùng nền kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm qua, tôi cho rằng đây là một vận hội rất lớn, và bản thân chúng tôi hoàn toàn có niềm tin vào vận hội này. Tuy nhiên, niềm tin khi mới được xây dựng luôn đi kèm với những lo lắng và băn khoăn nhất định.

Dù vậy, tôi tin rằng các nhà hoạch định chính sách sẽ tiếp tục đưa ra những cơ chế phù hợp để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, giúp tất cả chúng ta bước tới những thành công mới trong giai đoạn sắp tới.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Qua hai chia sẻ vừa rồi của các doanh nhân trẻ, có thể thấy "Đổi mới lần thứ hai" không chỉ là câu chuyện của doanh nghiệp, mà còn là câu chuyện của thể chế. Muốn doanh nghiệp tích tụ tài sản, tích lũy năng lực và lớn lên thành những tập đoàn dẫn dắt, điều kiện tiên quyết là phải có một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và dễ dự báo.

Xin mời ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chia sẻ: Trong bối cảnh mới, quy trình lập pháp cần được đổi mới ra sao để chính sách thực sự trở thành bệ đỡ cho doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh và hình thành thêm nhiều tập đoàn kinh tế đủ sức cạnh tranh khu vực, quốc tế?

Nhà đầu tư không sợ thuế cao, họ sợ pháp luật thay đổi liên tục

Ông Nguyễn Văn Phúc: Trước hết, chúng ta đang đặt ra một vấn đề rất hay: những chính sách, pháp luật nào của Nhà nước đã tạo nên khuôn khổ pháp lý cho sự hình thành khu vực kinh tế tư nhân, trong đó có các tập đoàn kinh tế tư nhân, đồng thời cả các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Trong 40 năm qua, nhu cầu hình thành doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp là một nhu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường. Việc hình thành các tập đoàn kinh tế, trong đó có tập đoàn tư nhân, cũng là một bước phát triển mang tính quy luật. Đảng và Nhà nước đã sớm nhìn thấy quy luật đó để ban hành các chính sách phù hợp.

Ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Ảnh: A Huy.

Chính vì khuôn khổ chính sách nhìn chung đi đúng hướng nên mới dẫn tới kết quả ngày nay: Việt Nam hiện có hơn 1 triệu doanh nghiệp, hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể và hàng chục triệu hộ sản xuất nông nghiệp. Đây là một lực lượng kinh tế tư nhân rất lớn.

Cần nhấn mạnh rằng đây trước hết là một nhu cầu khách quan của sự phát triển, và chính sách của chúng ta nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu đó. Khi nói đến những tập đoàn kinh tế đầu tiên có vai trò dẫn dắt tại Việt Nam, thực tế phải nhắc tới các tập đoàn nước ngoài.

Năm 1987, khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, những nhà đầu tư đầu tiên vào Việt Nam chính là các tập đoàn đa quốc gia. Có thể xem đây là sự hiện diện sớm nhất của mô hình tập đoàn kinh tế tại Việt Nam.

Đến năm 1990, chúng ta ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Ở giai đoạn này, khái niệm tập đoàn kinh tế chưa được xác lập rõ trong luật.

Bước ngoặt lớn diễn ra vào năm 1999, khi Luật Doanh nghiệp ra đời với nguyên tắc mang tính đột phá: Doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm. Đây là một thay đổi rất lớn, tạo nền tảng cho sự bùng nổ doanh nghiệp trong giai đoạn sau đó.

Đến năm 2005, trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư thống nhất được ban hành. Đây là giai đoạn lần đầu tiên khái niệm tập đoàn kinh tế được ghi nhận rõ hơn trong hệ thống pháp luật.

Tới năm 2020, Luật Doanh nghiệp tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến mô hình tập đoàn kinh tế, cả trong khu vực tư nhân và nhà nước.

Ngoài ra, năm 2009, chúng ta cũng có chủ trương thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước trong 11 lĩnh vực. Nhiều tập đoàn vẫn phát triển cho tới hôm nay, dù cũng có những trường hợp thất bại điển hình như Vinashin.

Từ đó có thể thấy rất rõ: Quá trình phát triển các tập đoàn kinh tế luôn gắn liền với quá trình hoàn thiện pháp luật, trong đó có thí điểm, có thành công và cũng có những bài học thất bại. Tuy nhiên, theo tôi, thành công nổi bật nhất nằm ở các tập đoàn kinh tế tư nhân, bởi đó là nhu cầu sống còn của chính doanh nghiệp trên thị trường.

Các yếu tố tạo nên sức mạnh của một tập đoàn kinh tế gồm: Khả năng tập trung vốn; năng lực công nghệ; thị trường và hội nhập quốc tế; quản trị hiện đại; đổi mới sáng tạo; liên kết doanh nghiệp.

Vậy trong thời gian tới cần làm gì? Thứ nhất, cần tiếp tục sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2020 và các luật liên quan để thể chế hóa đầy đủ các nghị quyết của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết 68, cùng các nghị quyết liên quan tới FDI và doanh nghiệp nhà nước.

Thứ hai, phải thay đổi tư duy làm luật. Hiện nay, chúng ta có xu hướng quá coi trọng tốc độ ban hành mà chưa coi trọng đúng mức chất lượng của luật. Luật ban hành nhanh nhưng lại phải sửa đổi liên tục, gây ách tắc cho môi trường đầu tư kinh doanh. Nhà đầu tư không hẳn sợ thuế cao, nhưng họ sợ nhất là pháp luật thay đổi liên tục, thiếu ổn định và không thể tiên liệu được. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng đối với niềm tin thị trường.

Thứ ba, phải đầu tư mạnh cho đội ngũ làm pháp luật. Hiện nay, chất lượng cán bộ tham gia xây dựng pháp luật ở nhiều nơi còn hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp.

Nhiều người chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng và nghề làm luật. Nếu không nâng cao chất lượng đội ngũ này, chúng ta rất khó có được một hệ thống pháp luật thực sự tốt, đủ sức tạo nền tảng cho doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh và hình thành thêm nhiều tập đoàn kinh tế dẫn dắt.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Các nghị quyết chiến lược gần đây đều thể hiện tinh thần đột phá rất rõ, đặc biệt ở các nguyên tắc như bảo vệ quyền tài sản và bảo đảm quyền tự do kinh doanh. Tuy nhiên, theo chia sẻ của nhiều doanh nhân, họ vẫn còn một tâm lý e ngại khá lớn về rủi ro pháp lý, nhất là nỗi lo ranh giới giữa quan hệ kinh tế, dân sự với trách nhiệm hình sự đôi khi chưa được phân định thật rõ ràng.

Xin được mời ông Ngô Thái Ninh, luật sư cấp cao tại Baker & McKenzie trao đổi chia sẻ vấn để làm thế nào để phân định rạch ròi giữa rủi ro kinh doanh, sai sót trong quản trị doanh nghiệp với các hành vi vi phạm hình sự, từ đó giúp doanh nhân yên tâm đầu tư lớn, đầu tư dài hạn và dám chấp nhận những quyết định mang tính đột phá?

Pháp luật đủ minh bạch và nhất quán thì doanh nghiệp mới dám làm việc lớn

Luật sư Ngô Thái Ninh: Đây thực ra không phải là một vấn đề mới. Quan điểm bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và không hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Bộ Chính trị và Quốc hội.

Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt nhằm thể chế hóa và triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết này được cộng đồng doanh nghiệp đón nhận rất tích cực, bởi nó mở ra kỳ vọng về một môi trường kinh doanh an toàn, minh bạch và dễ tiên liệu hơn.

Tuy nhiên, trong thực tế, tâm lý e ngại về rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh vẫn còn khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp vẫn cảm nhận rằng những rủi ro trong kinh doanh hoặc những sai sót trong quản trị đôi khi có thể dẫn tới hệ quả pháp lý ở mức hình sự. Trong thực tiễn hành nghề, tôi nhận thấy một chuyển biến tích cực của thị trường Việt Nam.

Trong khoảng 5-10 năm trở lại đây, doanh nghiệp ngày càng có xu hướng sử dụng luật sư, chuyên gia pháp chế và xây dựng phòng/ban pháp chế nội bộ, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu lợi nhuận.

Đây là một tín hiệu rất tốt về sự trưởng thành trong quản trị doanh nghiệp. Dù vậy, ranh giới giữa rủi ro hình sự, dân sự và kinh tế trên thực tế vẫn còn khá mong manh. Có thể thấy rõ điều này qua việc trong 5 năm gần đây, nhiều đại án kinh tế lớn xuất hiện, khiến cộng đồng doanh nghiệp cảm nhận rủi ro pháp lý của mình lớn hơn bao giờ hết.

Luật sư Ngô Thái Ninh. Ảnh: A Huy.

Tinh thần của Nghị quyết 68 là rất rõ: Không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự và không hồi tố theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp. Từ đó, tôi có một số kiến nghị. Thứ nhất, cần tiếp tục ưu tiên xây dựng thể chế và hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định, bám sát tinh thần của Nghị quyết 68.

Thứ hai, cần xây dựng các tiêu chí rõ ràng để phân định rạch ròi giữa rủi ro kinh doanh, sai sót trong quản trị doanh nghiệp với hành vi cố ý vi phạm pháp luật. Chế tài hình sự chỉ nên được áp dụng theo nguyên tắc "hình sự tối thiểu", tức là chỉ áp dụng khi hành vi gây tác động nghiêm trọng tới xã hội; còn lại nên ưu tiên các chế tài kinh tế và dân sự.

Thứ ba, phải tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận và xử lý tranh chấp theo đúng bản chất của giao dịch. Pháp luật cần tạo ra một khoảng không hợp lý để doanh nghiệp có đủ thời gian, không gian và nguồn lực nhằm khắc phục hậu quả trước khi phải đối diện với các chế tài hình sự mang tính răn đe.

Bên cạnh đó, cần lấy con người làm trung tâm, ưu tiên đào tạo và phát triển đội ngũ luật sư, chuyên gia pháp lý có khả năng tư vấn, đào tạo cho doanh nghiệp về pháp luật, đặc biệt là về ranh giới giữa rủi ro kinh tế và trách nhiệm hình sự.

Song song với đó, cũng phải nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tham gia xây dựng chính sách và soạn thảo luật, bảo đảm quá trình này diễn ra minh bạch, công tâm và bám sát thực tiễn đời sống kinh tế.

Đây không phải là câu chuyện của riêng một phía, mà đòi hỏi sự tham gia của tất cả các chủ thể trong hệ sinh thái pháp lý và kinh doanh. Chỉ khi pháp luật đủ minh bạch, đủ nhất quán và đủ khả năng tiên liệu, doanh nghiệp mới dám làm những việc lớn để đóng góp cho đất nước.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Sau câu chuyện về thể chế và niềm tin pháp lý, một trụ cột không thể thiếu để hình thành các tập đoàn kinh tế dẫn dắt là vốn dài hạn cho tăng trưởng.

Xin mời bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chia sẻ rõ hơn: Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho các dự án quy mô lớn ngày càng tăng, làm sao để hệ thống ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò bệ đỡ cho các tập đoàn lớn, vừa bảo đảm an toàn hệ thống và không làm méo mó dòng chảy tín dụng giữa doanh nghiệp lớn với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa?

Không thể để nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng

Bà Phạm Thị Thanh Tùng: Tín dụng ngân hàng hiện vẫn đang đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đối với câu hỏi làm thế nào để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, đồng thời phân bổ nguồn lực hiệu quả, không lệch về một nhóm đối tượng nào, đây cũng chính là những vấn đề mà ngành ngân hàng đã và đang tập trung giải quyết trong thời gian qua.

Trước hết là hoàn thiện thể chế và khung pháp lý, nhằm vừa tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động cấp tín dụng, vừa bảo đảm an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng. Cụ thể, năm 2024, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã trình Quốc hội ban hành Luật Các tổ chức tín dụng 2024; sang năm 2025 tiếp tục trình luật sửa đổi, bổ sung.

Trong đó, các quy định về nghiệp vụ cấp tín dụng được làm rõ hơn, đồng thời bổ sung nhiều hình thức cấp tín dụng mới như cấp tín dụng qua phương tiện điện tử hoặc các khoản vay nhỏ không yêu cầu phương án sử dụng vốn quá chi tiết. Những thay đổi này giúp tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho các tổ chức tín dụng, đồng thời giúp khách hàng tiếp cận vốn dễ dàng hơn. Luật cũng quy định rõ các tỷ lệ bảo đảm an toàn hệ thống.

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ảnh: A Huy.

Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn liên quan đến kiểm soát nội bộ, các tỷ lệ an toàn và giới hạn cấp tín dụng, nhằm bảo đảm các tổ chức tín dụng tuân thủ các chuẩn mực an toàn khi cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Dòng vốn đang được phân bổ tương đối cân bằng Trong điều hành, Ngân hàng Nhà nước luôn yêu cầu các tổ chức tín dụng tập trung vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, đồng thời thúc đẩy mạnh chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.

Bên cạnh việc cấp tín dụng cho các tập đoàn, tổng công ty thực hiện những dự án lớn, ngành ngân hàng cũng đẩy mạnh cải cách thủ tục và chuyển đổi số để mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho các khu vực khác như kinh tế tập thể, hộ gia đình và hộ kinh doanh.

Đối với các lĩnh vực cần định hướng hỗ trợ, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình tín dụng chuyên biệt cho: Nông nghiệp, nông thôn; doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp công nghệ cao; xuất khẩu.

Các chương trình này góp phần giúp phân bổ dòng vốn cân bằng hơn giữa các thành phần kinh tế. Thực tế cho thấy, đến cuối năm 2024, tổng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,17 triệu tỷ đồng, tăng 19,07% so với năm 2023. Trong đó, tín dụng cho doanh nghiệp chiếm khoảng 48%; tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình và hộ kinh doanh chiếm khoảng 46%.

Điều này cho thấy dòng vốn không chỉ tập trung vào các tập đoàn lớn mà đang được phân bổ tương đối đều cho nhiều khu vực của nền kinh tế. Các lĩnh vực ưu tiên cũng chiếm tỷ trọng đáng kể, như: Nông nghiệp, nông thôn khoảng 23%; doanh nghiệp nhỏ và vừa khoảng 20% Qua đó cho thấy tín dụng đang được phân bổ theo hướng tương đối hiệu quả. Tăng trưởng tín dụng đang nhanh hơn huy động vốn.

Tuy nhiên, một điểm cần đặc biệt lưu ý là tốc độ tăng trưởng tín dụng hiện đang cao hơn tốc độ huy động vốn, qua đó tiềm ẩn rủi ro thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Cuối năm 2024, tín dụng tăng 19,07%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,5%. Đến cuối tháng 3 năm nay, tín dụng tăng khoảng 2,45%, nhưng huy động mới chỉ đạt khoảng 0,31%. Ngành ngân hàng cam kết sẽ tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, nếu nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, mô hình tăng trưởng đó sẽ thiếu tính bền vững. Vì vậy, cần tiếp tục đa dạng hóa các nguồn lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là phát triển mạnh hơn thị trường vốn.

Thời gian qua, dù đã có nhiều giải pháp nhằm nâng hạng thị trường vốn, quy mô thị trường này vẫn còn hạn chế. Ví dụ, nếu loại trừ trái phiếu ngân hàng, thì trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ chiếm khoảng 20%, cho thấy sự mất cân đối trong huy động vốn trung và dài hạn.

Bên cạnh đó, cần phát triển thêm các nguồn vốn khác như quỹ đầu tư, để hỗ trợ doanh nghiệp theo những mô hình linh hoạt hơn. Cần cơ sở dữ liệu quốc gia về tập đoàn và hệ sinh thái Đối với phát triển các tập đoàn và tổng công ty, từ góc độ ngân hàng, tôi có một số khuyến nghị.

Thứ nhất, các tập đoàn cần thực sự đóng vai trò đầu tàu hình thành các chuỗi liên kết với doanh nghiệp vệ tinh. Mô hình này không mới, nhưng số lượng chuỗi vận hành hiệu quả hiện nay vẫn còn hạn chế.

Ví dụ, Vingroup đã xây dựng được một hệ sinh thái khá hoàn chỉnh. Khi một dự án được triển khai, ngay lập tức kéo theo nhiều doanh nghiệp vệ tinh cùng tham gia, từ xây dựng, vật liệu cho tới các dịch vụ liên quan. Điều đó cho thấy bản thân các tập đoàn phải chủ động định hình chuỗi giá trị của mình, trong khi Nhà nước cần tiếp tục tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để hỗ trợ quá trình này.

Thứ hai, cần đánh giá lại hiệu quả thực thi các chính sách, đặc biệt là Nghị quyết 68, sau gần một năm triển khai, để những giải pháp hiệu quả tiếp tục được thúc đẩy mạnh hơn trong thực tế.

Cuối cùng, từ góc độ ngân hàng, cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp và hệ sinh thái là yếu tố đặc biệt quan trọng trong thẩm định tín dụng. Do đó, cần xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về các tập đoàn, tổng công ty và hệ sinh thái của họ, bảo đảm tính minh bạch về tài chính và hoạt động. Điều này không chỉ giúp hệ thống ngân hàng thuận lợi hơn trong cấp tín dụng mà còn hỗ trợ tốt hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Sau câu chuyện về vốn tín dụng, một vấn đề lớn hơn được đặt ra là cấu trúc nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030. Rõ ràng, để đạt được khát vọng này, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng mà cần huy động đồng thời thị trường vốn, dòng vốn quốc tế, các quỹ đầu tư và nguồn lực tư nhân trong nước.

Xin mời bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng Giám đốc Standard Chartered Việt Nam, trao đổi rõ hơn: Theo bà, đâu là những giải pháp then chốt để Việt Nam huy động đủ nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, đồng thời bảo đảm chất lượng và tính bền vững của dòng vốn trong giai đoạn tới?

Muốn tăng trưởng hai con số, phải cân bằng vốn chủ sở hữu và vốn nợ

Bà Nguyễn Thúy Hạnh: Theo tôi, để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho giai đoạn tăng trưởng mới, Việt Nam cần nhìn bài toán nguồn lực theo hai cấu phần chính: vốn chủ sở hữu (equity) và vốn nợ (debt). Nhu cầu vốn cho giai đoạn tới là khoảng 38 triệu tỷ đồng, trong khi nguồn từ Nhà nước chỉ chiếm khoảng 8,5 triệu tỷ đồng.

Bà Nguyễn Thúy Hạnh. Ảnh: A Huy.

Phần còn lại buộc phải được huy động từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và các nguồn lực quốc tế. Với equity, cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước, đồng thời thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với thị trường chứng khoán để tạo thêm hàng hóa chất lượng cho thị trường.

Song song với đó, Việt Nam cần thu hút mạnh hơn FDI thông qua các thương vụ private equity, hướng tới các nhà đầu tư lớn, dài hạn. Việc thị trường chứng khoán tiến gần mục tiêu nâng hạng cũng sẽ mở thêm dư địa cho dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.

Một nguồn lực rất quan trọng khác là vốn trong dân cư, kể cả các tài sản đang nằm trong vàng. Nếu khơi thông tốt nguồn lực này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm dư địa phát triển rất lớn.

Với debt, đây vẫn là đòn bẩy tài chính quan trọng, nhưng không thể chỉ dựa vào vốn vay ngắn hạn và tín dụng ngân hàng. Hiện nay, khoảng 80% cấu trúc nợ vẫn là ngắn hạn, trong khi nhu cầu của nền kinh tế đòi hỏi tỷ trọng vốn trung và dài hạn lớn hơn nhiều. Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt mở rộng nền nhà đầu tư tổ chức để cung cấp nguồn vốn dài hạn ổn định cho doanh nghiệp.

Cuối cùng, một hướng đi rất đáng chú ý là tài trợ chuỗi, giúp kết nối hiệu quả hơn nguồn vốn từ ngân hàng, doanh nghiệp và cả dòng tiền trong dân cư vào các hệ sinh thái sản xuất - kinh doanh. Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, Việt Nam không chỉ cần nhiều vốn hơn, mà quan trọng hơn là phải thiết kế lại cấu trúc vốn theo hướng cân bằng giữa equity, debt và các nguồn lực trong dân cư, quốc tế.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Xin được mời ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup, chia sẻ rõ hơn điểm nghẽn lớn nhất của thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiện nay đang nằm ở đâu, vì sao kênh vốn này vẫn chưa phát triển tương xứng với vai trò kỳ vọng?

Điểm nghẽn lớn nhất của trái phiếu doanh nghiệp nằm ở phía cầu

Ông Nguyễn Quang Thuân: Theo tôi, thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển được không chỉ do phía cung hàng hóa, mà đặc biệt nằm ở phía cầu từ nhà đầu tư. Hiện nay, lực cầu đối với trái phiếu doanh nghiệp, cả trong nước lẫn nước ngoài, vẫn còn rất hạn chế. Ví dụ, toàn ngành bảo hiểm hiện đang nắm khoảng 30 tỷ USD tài sản đầu tư (không tính Bảo hiểm xã hội Việt Nam), nhưng tỷ trọng giải ngân vào trái phiếu doanh nghiệp vẫn rất thấp.

Ông Nguyễn Quang Thuân. Ảnh: A Huy.

Tương tự, các định chế tài chính nước ngoài hiện gần như nắm giữ 0% trái phiếu doanh nghiệp nội tệ của Việt Nam. Trong khi đó, tỷ lệ này tại các nước trong khu vực cao hơn rất nhiều, như Trung Quốc khoảng 6%, Hàn Quốc 21%, Indonesia 14%. Như vậy, điểm nghẽn hiện nay không chỉ ở phía cung mà nằm rất rõ ở cấu trúc cầu đầu tư dài hạn của thị trường.

Về phía cung, cũng đã có những tín hiệu tích cực. Chính phủ đã ban hành Nghị định 245 hướng dẫn Luật Chứng khoán, giúp chuẩn hóa điều kiện phát hành, đặc biệt với chào bán ra công chúng. Đồng thời, việc sửa đổi Nghị định 153 và Nghị định 08 cũng đang được kỳ vọng sẽ tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho thị trường.

Một điểm rất quan trọng là việc chuẩn hóa mục đích sử dụng vốn, bám sát theo Luật Đầu tư với từng chương trình, dự án cụ thể. Cùng với đó là yêu cầu cao hơn về xếp hạng tín nhiệm và minh bạch báo cáo tài chính, giúp cải thiện chất lượng hàng hóa trên thị trường.

Tuy nhiên, nếu không tính trái phiếu ngân hàng, tổng phát hành của doanh nghiệp phi ngân hàng năm ngoái mới chỉ khoảng 200 nghìn tỷ đồng, vẫn còn khá nhỏ so với vai trò kỳ vọng. Ở góc độ tổng thể, tôi cho rằng nguồn vốn cho tăng trưởng không phải vấn đề lớn, mà vấn đề cốt lõi là sử dụng vốn hiệu quả, có trách nhiệm và phù hợp với kỳ hạn của dự án.

Trong tương lai, tôi kỳ vọng Việt Nam sẽ có những doanh nghiệp đạt xếp hạng tín nhiệm cao hơn cả Chính phủ, như câu chuyện Toyota tại Nhật Bản hay Infosys tại Ấn Độ. Nếu làm được điều đó, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể huy động vốn quốc tế với chi phí thấp hơn rất nhiều.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Sau câu chuyện về vốn, tôi muốn quay trở lại một câu hỏi rất quan trọng: làm sao để các tập đoàn lớn thực sự trở thành đầu tàu kéo cả hệ sinh thái doanh nghiệp cùng đi lên.

Xin mời ông Nguyễn Duy Hưng, Thành viên HĐQT Tân Hiệp Phát, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn: Theo ông, đâu là chìa khóa để kết nối hiệu quả các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, từ nhà cung cấp nguyên liệu, logistics cho tới hệ thống phân phối, để tạo ra sức mạnh cộng hưởng cho cả hệ sinh thái?

Muốn kết nối chuỗi cung ứng, cốt lõi là chia sẻ lợi ích hợp lý và tạo niềm tin dài hạn

Ông Nguyễn Duy Hưng: Theo tôi, việc xây dựng các doanh nghiệp lớn để dẫn dắt không chỉ nhằm mục tiêu tăng trưởng hay tạo giá trị gia tăng, mà quan trọng hơn là tạo sức mạnh nội lực cho doanh nghiệp Việt, nâng cao tính tự lực, tự cường và tự chủ của nền kinh tế.

Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, vai trò này càng quan trọng. Một tập đoàn lớn chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với lợi ích quốc gia và xây dựng được một hệ sinh thái cùng phát triển.

Với Tân Hiệp Phát, hệ sinh thái của chúng tôi trải dài từ nông dân trồng trà, đơn vị thu mua nguyên liệu, nhà cung cấp, logistics cho đến xây dựng nhà máy. Ngoài phần thiết bị công nghệ phải nhập khẩu, trung bình khoảng 60-70% doanh thu được chi tiêu trong nước, qua đó tạo việc làm cho khoảng 3.500-4.000 lao động trực tiếp. Về câu hỏi làm sao kết nối được các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, theo tôi, cốt lõi là lợi ích.

Muốn nông dân, nhà cung ứng hay nhà phân phối gắn bó lâu dài, doanh nghiệp phải phân bổ giá trị gia tăng một cách hợp lý, bảo đảm nguyên tắc win-win và giữ sự trung thành với đối tác. Không có cách nào khác ngoài việc chia sẻ lợi ích đủ tốt để các bên cùng muốn đi đường dài.

Ông Nguyễn Duy Hưng, Thành viên HĐQT Tân Hiệp Phát. Ảnh: A Huy.

Khó khăn hiện nay là phần lớn các thỏa thuận mới chỉ dừng ở hợp đồng ngắn hạn 1 năm hoặc theo từng lô hàng, khiến doanh nghiệp rất khó xây dựng kế hoạch dài hạn cho cả chuỗi.

Nguyên nhân là thị trường còn khó dự báo, trong khi niềm tin giữa các bên chưa đủ mạnh. Vì vậy, để xây dựng được chuỗi cung ứng bền vững, ngoài việc chia sẻ lợi ích hợp lý, rất cần một môi trường chính sách ổn định để doanh nghiệp có thể dự báo và cam kết dài hạn.

Ở góc độ doanh nghiệp tư nhân, điều chúng tôi cần nhất là không bị trói buộc, được tự do vận động trong một môi trường ổn định và có thể dự báo. Doanh nghiệp không cần ai chỉ phải làm gì, mà cần niềm tin để mạnh dạn tái đầu tư và nâng cấp chuỗi giá trị.

Cuối cùng, tôi cho rằng cơ quan quản lý cần coi doanh nghiệp không chỉ là đối tượng quản lý mà là đối tác đồng hành, đồng thời bảo đảm kỷ luật thực thi hợp đồng. Hợp đồng đã ký phải được tôn trọng và thực thi nghiêm túc. Chỉ khi quyền tài sản và kỷ luật hợp đồng được bảo đảm, doanh nghiệp mới có thể xây dựng những chuỗi cung ứng bền vững và đủ sức cạnh tranh quốc tế.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Xin cảm ơn các ý kiến rất xác thực của ông Nguyễn Duy Hưng, những câu chuyện, những ý kiến đề xuất rất trúng và rất đúng. Rõ ràng đội ngũ quan chức cần phải quan tâm nhiều hơn tới doanh nghiệp, gần gũi hơn để nắm được khó khăn của doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo rất nhiều, tuy nhiên một bộ phận đội ngũ công chức vẫn chưa thể chia sẻ, thậm chí vô cảm trước khó khăn của doanh nghiệp.

Nếu không có chế tài hay quy định nào đó để khắc phục việc này, thì gần như hội thảo nào khi nhắc đến khó khăn của doanh nghiệp việc này lại được khơi lên.

Ý kiến cuối cùng xin mời được dành cho ông Phan Đức Hiếu, đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội.

Đã đến lúc các tập đoàn kinh tế lớn vươn ra nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường

Ông Phan Đức Hiếu: Tôi nhận thấy trong 40 năm qua, vai trò của tập đoàn kinh tế rất quan trọng, khi đóng góp vào tăng trưởng, sản phẩm cho xã hội và những giá trị của Việt Nam mang ra nước ngoài thông qua các tập đoàn lớn. Tôi tự hỏi: Các điều gì sẽ xảy ra tiếp theo đây?

Trước tiên là sản xuất vật chất và mong muốn lớn hơn của Chính phủ là thúc đẩy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp. Tiếp theo, doanh nghiệp sẽ biết mình phải làm gì. Ở góc độ Nhà nước, trong vai trò làm chính sách, chúng tôi phải rất cân bằng giữa lợi ích nhà nước và tránh mặt trái là tập đoàn kinh tế lạm dụng cơ chế thị trường.

Về kinh nghiệm quốc tế, trước đây Hàn Quốc có chính sách hạn chế tập đoàn kinh tế, hạn chế họ tăng vốn quá mức vào lĩnh vực này, lĩnh vực kia… Khi Hàn Quốc đánh giá rằng khu vực kinh tế tư nhân chiếm lĩnh thêm 10% thị phần nhưng đóng góp của họ suy giảm, từ đó họ kết luận rằng cần bãi bỏ các hạn chế đó. Nhìn về tương lai, vai trò dẫn dắt của tập đoàn kinh tế ở Việt Nam rất lớn.

Ông Phan Đức Hiếu, đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội. Ảnh: A Huy.

Tôi mong muốn, để nâng cao chất lượng của các tập đoàn lớn, duy trì được thị trường cạnh tranh, thì thể chế phải thực sự đơn giản, thông thoáng. Ngoài ra, cần có sự đổi ngôi giữa các tập đoàn. Đổi ngôi ở đây không phải là triệt tiêu nhau mà doanh nghiệp này sẽ vượt doanh nghiệp khác. Chỉ có sự cạnh tranh thì mới thúc đẩy các tập đoàn nâng cao được hiệu quả.

Do đó, cần duy trì chính sách thực sự cạnh tranh, cởi mở. Khi xây dựng chính sách, cần đánh giá tác động của chính sách đến các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ một cách đồng đều. Ở một doanh nghiệp lớn, quản trị công ty cực kỳ quan trọng. Ở mặt vĩ mô, tôi lo lắng doanh nghiệp nhỏ và lớn theo mô hình quản trị gia đình.

Do đó, ở doanh nghiệp lớn, cần thêm quy định để bảm đảm tính minh bạch, tách bạch quản trị gia đình và bảo vệ lợi ích cổ đông nhỏ. Tóm lại là nâng cao chất lượng quản trị công ty. Một nền kinh tế bền vững phải có sự kết hợp giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ.

Các doanh nghiệp lớn nhận thấy rằng cần phải kết hợp với doanh nghiệp nhỏ để tăng tính hiệu quả. Đã đến lúc các tập đoàn kinh tế lớn vươn ra nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, để không thể mãi “chia miếng bánh nội”.

Vừa qua chúng ta đã nhận thấy điều này ở Vingroup, Vinamilk, Tập đoàn Xuân Thiện, Viettel hay FPT. Thậm chí đã đến lúc có chính sách để doanh nghiệp Việt chiếm lĩnh thị trường nước ngoài.

Khi vươn ra nước ngoài, cần phát huy lợi thế của tập đoàn kinh tế, bởi không thể vươn ra nếu không có sự dẫn dắt của tâoj đoàn lớn, không thể cứ “xua quân ra là chiến thắng”. Sau 40 năm đổi mới, cần phải nghĩ đến việc mở rộng thị trường, “mở rộng bờ cõi”.

Việt Nam có rất nhiều chủ trương, văn bản khi thực hiện, nhưng các chính sách thiếu cơ chế, bộ máy để thực hiện chủ trương. Ở Hàn Quốc có Uỷ ban cải cách thể chế (KCCP) trực thuộc Thủ tướng.

Còn ở Đài Loan có uỷ ban tương tự là Hệ thống kết nối doanh nghiệp, luôn kèm theo đó là một thể chế thực thi. Đài Loan thành công khi phát triển một chuỗi các doanh nghiệp. Bài học ở đây là khi ban hành chính sách cần đi kèm một thể chế rất cụ thể. Chính phủ đang chỉ đạo tổng rà soát toàn bộ hệ thống luật pháp, không phân mảnh nữa.

Tôi kỳ vọng đây là một cuộc cải cách thể chế toàn diện hệ thống. Nếu cứ sửa nhưng thiếu một sự rà soát hệ thống thì cải cách luật pháp sẽ không triệt để. Tôi rất mong cộng đồng doanh nghiệp tham gia đợt tổng rà soát này.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Xin cảm ơn ý kiến ông Phan Đức Hiếu. Ban tổ chức hội thảo tin tưởng các ý kiến đóng góp của các đại biểu và các tham luận sẽ rất hữu ích cho ông trong việc thẩm định các văn bản pháp luật về kinh tế - tài chính.

Kính thưa các đại biểu, qua hội thảo, chúng ta đã khẳng định vai trò quan trọng của các tập đoàn kinh tế, theo cách hiểu ở đây là doanh nghiệp lớn, cả tư nhân và nhà nước. Chúng ta cũng đã đồng thuận không thể có nền kinh tế mạnh nếu không có các tập đoàn kinh tế mạnh. Các đại biểu cũng đã đề xuất rất nhiều các giải pháp để đạt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 của Trung ương.

Bao gồm các nhóm giải pháp về pháp lý; nhóm giải pháp về huy động vốn trong bối cảnh nhu cầu vốn cực lớn, các chuyên gia cũng đã nói rất kỹ về các kênh huy động, cho thấy không thể chỉ dựa vào các ngân hàng thương mại mà cần phải đa dạng hóa nguồn vốn, khơi thông các kênh tín dụng cho doanh nghiệp. Hội thảo cũng đã bàn các giải pháp tạo ra sự liên kết, vai trò dẫn dắt doanh nghiệp lớn với SME, nhiều ý kiến đề cập khá sâu các giải pháp cụ thể.

Tuy nhiên thời gian không cho phép nên cũng hơi đang tiếc còn một vấn đề BTC rất muốn đề cập, đó là xây dựng cơ chế ưu đãi như nào để doanh nghiệp trong nước ưu tiên chuỗi cung ứng trong nước, dù giá thành có thể cao hơn so với nước ngoài, chứ không thể cứ kêu gọi trách nhiệm dân tộc.

Sau hội thảo, Ban tổ chức sẽ tổng hợp các ý kiến tham luận và các ý kiến đề xuất của các đại biểu gửi tới Ban Chính sách Chiến lược Trung ương, và Ủy ban Kinh tế tài chính của Quốc hội để làm tài liệu tham khảo. Xin trân trọng cảm ơn các đại biểu và xin được bế mạc hội thảo!

  • Cùng chuyên mục
Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập TP. Quảng Ninh trực thuộc Trung ương

Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập TP. Quảng Ninh trực thuộc Trung ương

Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập TP. Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính của tỉnh cũ.

Sự kiện - 15/04/2026 16:57

Toàn văn phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc

Toàn văn phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc

Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc ngày 14/4.

Sự kiện - 15/04/2026 08:28

Thượng tướng Lê Đức Thái giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa

Thượng tướng Lê Đức Thái giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa

Thượng tướng Lê Đức Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, vừa được Bộ Chính trị điều động, phân công giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa.

Sự kiện - 14/04/2026 14:44

Ông Nguyễn Mạnh Hùng làm Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng

Ông Nguyễn Mạnh Hùng làm Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy Đà Nẵng được bầu giữ chức Chủ tịch UBND thành phố nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Sự kiện - 14/04/2026 11:16

Đã đến lúc các tập đoàn lớn vươn ra nước ngoài, thay vì chỉ chia miếng bánh nội địa

Đã đến lúc các tập đoàn lớn vươn ra nước ngoài, thay vì chỉ chia miếng bánh nội địa

Chiều 13/4, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" nhằm đánh giá vai trò dẫn dắt và khuyến nghị chính sách phát triển mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế.

Sự kiện - 13/04/2026 13:00

Ông Trump đe dọa phong tỏa Hormuz sau khi đàm phán Mỹ - Iran đổ vỡ

Ông Trump đe dọa phong tỏa Hormuz sau khi đàm phán Mỹ - Iran đổ vỡ

Ông Trump cho biết ông đã chỉ thị cho Hải quân Mỹ tìm kiếm và chặn bắt mọi tàu thuyền trong vùng biển quốc tế đã trả phí qua eo biển Hormuz cho Iran.

Sự kiện - 13/04/2026 08:19

Thuế xăng dầu về 0 đồng, hiệu lực từ 16/4

Thuế xăng dầu về 0 đồng, hiệu lực từ 16/4

Với 100% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XVI đã thông qua nghị quyết áp dụng mức thuế 0 đồng đối với nhiều sắc thuế liên quan đến xăng, dầu và nhiên liệu bay, nhằm giảm chi phí, hỗ trợ phục hồi kinh tế.

Sự kiện - 12/04/2026 13:39

Khởi công tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh

Khởi công tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh

Sáng 12/4, tỉnh Quảng Ninh phối hợp với CTCP Đầu tư và Phát triển đường sắt cao tốc Vinspeed tổ chức Lễ khởi công Dự án tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh.

Sự kiện - 12/04/2026 13:31

Đàm phán Mỹ-Iran thất bại, hồ sơ hạt nhân vẫn là rào cản lớn

Đàm phán Mỹ-Iran thất bại, hồ sơ hạt nhân vẫn là rào cản lớn

Hiện hai bên còn tồn tại bốn khác biệt về quan điểm chính và khó nhượng bộ nhau, nên đàm phán thất bại là kết quả gần như tất yếu.

Sự kiện - 12/04/2026 11:33

Quốc hội bàn cơ chế xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Quốc hội bàn cơ chế xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Quốc hội thảo luận dự thảo Nghị quyết về cơ chế phối hợp và chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, với yêu cầu chuyển từ tư duy "phòng thủ" sang chủ động ứng phó, bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Sự kiện - 12/04/2026 09:18

GRDP TP.HCM cao nhất trong 10 năm nhưng chưa đạt yêu cầu

GRDP TP.HCM cao nhất trong 10 năm nhưng chưa đạt yêu cầu

GRDP quý I của TP.HCM tăng 8,27%, mức cao nhất trong một thập kỷ, song lãnh đạo TP.HCM yêu cầu siết chặt kỷ luật, khắc phục tình trạng triển khai thiếu đồng bộ để tạo chuyển biến thực chất, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Sự kiện - 11/04/2026 13:34

[Café Cuối tuần] Từ bản án bà Như Loan đến triết lý tư pháp mới: Khi thu hồi tài sản quan trọng hơn cánh cửa nhà tù

[Café Cuối tuần] Từ bản án bà Như Loan đến triết lý tư pháp mới: Khi thu hồi tài sản quan trọng hơn cánh cửa nhà tù

Hôm qua, cộng đồng các nhà đầu tư khá xôn xao bởi một bản án mang tính bước ngoặt. Bà Như Loan – Chủ tịch HĐQT Công ty Quốc Cường Gia Lai – bước ra khỏi phiên tòa với bản án treo sau khi nộp hơn 284 tỷ đồng khắc phục hậu quả.

Sự kiện - 11/04/2026 10:23

Thủ tướng phân công lĩnh vực công tác cho 6 Phó Thủ tướng

Thủ tướng phân công lĩnh vực công tác cho 6 Phó Thủ tướng

Quyết định mới của Thủ tướng Lê Minh Hưng quy định rõ nguyên tắc điều hành và phân công lĩnh vực phụ trách của Thủ tướng và các Phó Thủ tướng, bảo đảm chỉ đạo thống nhất, thông suốt, gắn trách nhiệm cá nhân với từng lĩnh vực.

Sự kiện - 11/04/2026 08:53

Thủ tướng: Không chấp nhận tăng trưởng nóng bằng mọi giá

Thủ tướng: Không chấp nhận tăng trưởng nóng bằng mọi giá

Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, mục tiêu tăng trưởng 2 con số là xuyên suốt nhưng không chấp nhận tăng trưởng nóng bằng mọi giá. Trọng tâm điều hành là giữ vững ổn định vĩ mô, đồng thời thúc đẩy các đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực từ thể chế, hạ tầng và đầu tư để tạo dư địa tăng trưởng bền vững.

Sự kiện - 10/04/2026 18:10

Nhà báo Nguyễn Phong Cầm giữ chức Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Bảo hiểm

Nhà báo Nguyễn Phong Cầm giữ chức Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Bảo hiểm

Ngày 10/4, tại Hà Nội, ông Nguyễn Xuân Việt, Chủ tịch Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam trao quyết định bổ nhiệm nhà báo Nguyễn Phong Cầm làm Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Bảo hiểm.

Sự kiện - 10/04/2026 16:11

Báo cáo thường niên FDI 2025: Việt Nam bước vào giai đoạn thu hút đầu tư chọn lọc và chiều sâu

Báo cáo thường niên FDI 2025: Việt Nam bước vào giai đoạn thu hút đầu tư chọn lọc và chiều sâu

Báo cáo Thường niên về Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2025 đã chỉ ra là sự thay đổi về chất của dòng vốn FDI với xu hướng gia tăng đáng kể của dòng vốn vào các lĩnh vực dịch vụ như bất động sản, bán buôn – bán lẻ, logistics, khoa học công nghệ, xử lý chất thải và dịch vụ lưu trú.

Sự kiện - 10/04/2026 11:59