‘Khoảng lặng’ giữa hai chương trình hành động của Chính phủ

Nhàđầutư
Trong tuần qua, Chính phủ đã ban hành 2 chương trình hành động “nặng ký”: Phát triển kinh tế tư nhân và Đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Trọng trách đặt lên vai những người “gác ghi đường ray”, giữ nhịp sao cho hai đoàn tàu tốc hành cùng lao nhanh về một hướng mà không làm “tổn thương” nhau.
TÙNG SƠN
09, Tháng 10, 2017 | 07:45

Nhàđầutư
Trong tuần qua, Chính phủ đã ban hành 2 chương trình hành động “nặng ký”: Phát triển kinh tế tư nhân và Đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Trọng trách đặt lên vai những người “gác ghi đường ray”, giữ nhịp sao cho hai đoàn tàu tốc hành cùng lao nhanh về một hướng mà không làm “tổn thương” nhau.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa xác định 5 nhiệm vụ chủ yếu, bao gồm:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, nhất quán, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, ít rủi ro, nhằm thu hút đầu tư tư nhân và bảo đảm hoạt động của kinh tế tư nhân cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo cơ chế thị trường.

Thứ hai, bãi bỏ các rào cản, quy định điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý, mở rộng khả năng tham gia thị trường, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng.

Thứ ba, về tăng cường khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng và các nguồn lực.

Thứ tư, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.

Thứ năm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; thống nhất nhận thức, tư tưởng về phát triển kinh tế tư nhân.

Trong khi đó, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước xác định mục tiêu là cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế, nhằm huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp để doanh nghiệp nhà nước giữ vững vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

Kiên quyết xử lý dứt điểm các doanh nghiệp nhà nước, các dự án đầu tư chậm tiến độ, hoạt động thua lỗ, kém hiệu quả theo cơ chế thị trường, thực hiện cơ cấu lại và chuyển nhượng dự án cho nhà đầu tư thuộc thành phần kinh tế khác. Làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật những vi phạm của các tổ chức, cá nhân liên quan để xảy ra tình trạng doanh nghiệp nhà nước, dự án đầu tư thua lỗ, thất thoát, lãng phí lớn...

nhiet-dien-duyen-hai-3

 Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 3. Ảnh minh hoạ

Hai chương trình tiến hành song song và về mặt lý thuyết, có tính tương hỗ nhau. Tư nhân mạnh thì mới gánh vác được việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và đủ áp lực thị trường để buộc doanh nghiệp nhà nước phải tự đổi mới. Và ngược lại, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước thì mới mở rộng không gian cho tư nhân cất cánh.

Thế nhưng, để có được một mối quan hệ đồng hành giữa hai khu vực là một “khoảng lặng” không dễ dàng.  Nguyên tắc là doanh nghiệp nhà nước chỉ tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Nói nôm na, địa hạt dành cho khu vực kinh tế nhà nước nay chỉ giới hạn trong những lĩnh vực “xương xẩu”, “khó nhằn”. Vậy thì đối với những vị vẫn đang trú chân nơi những địa hạt “ngon ăn” họ đâu dễ nhả “nồi cơm” của mình. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, công cuộc “bãi bỏ các rào cản, quy định điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý, mở rộng khả năng tham gia thị trường, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng” là điều không hề dễ dàng.

Lấy ví dụ ngay ở Bộ Công Thương, nơi vừa đưa ra một quyết định chưa có tiền lệ: cắt giảm 675 điều kiện đầu tư, kinh doanh. Chỉ một “ý kiến kết luận” của Tổng cục Năng lượng ngày 20/4/2016 yêu  cầu PVN chỉ đạo chủ đầu tư Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 “tập trung mua than của TKV sản xuất” cũng đủ làm méo mó thị trường và gây thiệt hại lớn cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng. Giá bán than trong nước của TKV vẫn bị than phiền đắt đỏ hơn so với thế giới, vì giá thành khai thác than cao hơn so với mặt bằng chung. Có thời điểm, ngay tại chân nhà máy, chênh lệch giữa hai giá  (than trong nước và nhập khẩu) tính ra lên tới 5 USD/tấn.

Cùng là “người nhà” trong một Bộ, cả EVN và PVN nhiều năm liền phải “cắn răng” mua than TKV trong khi có những nguồn cung khác cạnh tranh hơn. Rất may là hồi đầu năm, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng đã có ý kiến chỉ đạo mang tính “cởi trói”, phá thế độc quyền cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện của TKV (văn bản số 46/TTg-CN).

Cụ thể, Phó Thủ tướng cho phép EVN  xem xét khả năng các đơn vị có đủ năng lực tham gia cung ứng than cho nhu cầu các nhà máy nhiệt điện than, đảm bảo các yêu cầu sản xuất, kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và phải có nguồn than hợp pháp. Các đơn vị cung cấp than (TKV, Tổng công ty Đông Bắc và các đơn vị khác) làm việc với EVN để xây dựng kế hoạch cung cấp than ổn định và lâu dài.

Chỉ mấy chữ “các đơn vị khác” xếp sau TKV và Tổng công ty Đông Bắc nêu trên nhưng văn bản của Thủ tướng đã cất một “hòn đá” vốn đè nặng trên vai các nhà máy điện và các doanh nghiệp kinh doanh than bấy lâu nay. Tiếc là “may mắn” đó lại chỉ mới dành riêng cho EVN còn PVN vẫn chưa được “gọi tên”.

Câu chuyện cung cấp than cho sản xuất điện chỉ là một ví dụ. Để thấy rằng, trọng trách và áp lực lớn đang đặt lên vai những người “gác ghi đường ray”, giữ nhịp sao cho hai đoàn tàu tốc hành kinh tế tư nhân và nhà nước cùng lao nhanh về một hướng mà không làm “tổn thương” nhau.

Mã ngoại tệ Tên ngoại tệ Tỷ giá mua Tỷ giá bán
    Tiền mặt Chuyển khoản Chuyển khoản
USD Đô la Mỹ 23,270.00 23,290.00 23,800.00
GBP Bảng Anh 0.00 28,026.00 0.00
EUR EURO 23,603.00 23,698.00 24,065.00
SGD Đôla Singapore 16,722.00 16,831.00 17,093.00
HKD Đô la Hồng Kong 0.00 0.00 0.00
JPY Yên Nhật 170.88 171.74 174.40
CAD Đô la Canada 17,905.00 18,013.00 18,293.00
AUD Đô la Úc 16,022.00 16,127.00 16,410.00
KRW Won Hàn Quốc 0.00 17.78 0.00
CHF Franc Thụy Sĩ 0.00 24,330.00 0.00
THB Baht Thái Lan 0.00 657.00 0.00
TWD Tân Đài tệ 0.00 0.00 0.00
NZD Đô la New Zealand 0.00 14,566.00 0.00

Nguồn: ACB Bank

Điều chỉnh kích thước chữ