Xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc gặp khó

Nhàđầutư
Hiện có khoảng gần 120 DN XK cá tra của Việt Nam XK sang thị trường Trung Quốc, Trong đó, 3 DN có giá trị XK lớn nhất sang thị trường Trung Quốc – Hồng Kông trong thời gian này là: IDI Corp; TG FISHERY và GODACO.
PHƯƠNG LINH
09, Tháng 09, 2020 | 15:16

Nhàđầutư
Hiện có khoảng gần 120 DN XK cá tra của Việt Nam XK sang thị trường Trung Quốc, Trong đó, 3 DN có giá trị XK lớn nhất sang thị trường Trung Quốc – Hồng Kông trong thời gian này là: IDI Corp; TG FISHERY và GODACO.

Theo số liệu của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), tính đến nửa đầu tháng 8, tổng giá trị xuất khẩu (XK) cá tra sang Trung Quốc - Hong Kong đạt 271 triệu USD, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm trước. Trước đó, tháng 7, giá trị xuất khẩu sang thị trường này đạt 42,36 triệu USD, giảm 35,5% so với cùng kỳ năm 2019.

VASEP cho biết, năm nay, hoạt động XK cá tra sang Trung Quốc giảm ngay từ đầu năm do ảnh hưởng bởi sự ngưng trệ giao thương vì dịch COVID-19. Ngoài ra, sản phẩm cá thịt trắng nội địa của nước này cũng đang bị dư thừa do hoạt động XK thủy sản giảm. Do đó, trong năm nay, dự báo tổng giá trị XK cá tra sang thị trường này tạm thời chưa thể tăng trưởng dương so với năm ngoái.

Trong tháng 3/2020, các nhà XK cá tra Việt Nam đã tìm cách đưa các sản phẩm cá tra trở lại thị trường Trung Quốc sau thời gian phong tỏa, tuy nhiên khối lượng XK không chuyển biến rõ rệt. Trong tháng 4/2020, NK của Trung Quốc tăng từ mức 8.000 tấn trong tháng 3/2020 lên mức 19.000 tấn, cho thấy Trung Quốc tăng dần mức NK.

Tuy nhiên, ngay sau đó, do nguồn cá trong nước cũng đang thừa nên việc NK sản phẩm cá thịt trắng, trong đó có cá tra bắt đầu chậm và giảm dần.

1806-ynh-bai-dyyi-xk-ca-tra163-5447-7565-1599634988

Năm nay, hoạt động xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc giảm ngay từ đầu năm do ảnh hưởng bởi sự ngưng trệ giao thương vì dịch COVID-19. Ảnh: VASEP

8 tháng đầu năm nay, các nhà XK cá tra Việt Nam chủ yếu XK các sản phẩm cá tra sau đây sang thị trường Trung Quốc – Hồng Kông: Cá tra phile đông lạnh, bao tử cá tra đông lạnh, bong bóng cá chiên/khô/sấy, cá tra nguyên con xẻ bướm đông lạnh, bụng cá tra đông lạnh, cá tra phile cắt khúc/cắt miếng còn da, cá tra cắt portion đông lạnh, cá tra phile tẩm gia vị đông lạnh, cá tra nguyên con bỏ nội tạng đông lạnh….

Hiện có khoảng gần 120 DN XK cá tra của Việt Nam XK sang thị trường Trung Quốc, Trong đó, 3 DN có giá trị XK lớn nhất sang thị trường Trung Quốc – Hồng Kông trong thời gian này là: IDI Corp; TG FISHERY và GODACO.

Mặc dù bước qua quý II/2020, hoạt động sản xuất của các nhà máy thủy sản Trung Quốc quay trở lại, hoạt động XNK cũng bắt đầu bình thường khi Bắc Kinh không ghi nhận ca nhiễm COVID-19 nào trong 56 ngày liên tục.

Đáng chú ý, tháng 4/2020, giá trị XK cá tra sang Trung Quốc - Hồng Kông đạt 47,9 triệu USD, tăng khả quan 20,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, sang tháng 5-6/2020, XK cá tra lại chậm lại và có dấu hiệu ách tắc khi nhiều cửa khẩu Trung Quốc tạm ngưng hoạt động do nghi ngại virus corona lây lan từ thủy sản NK ra cộng đồng.

Sang tháng 6, Trung Quốc phát hiện dấu vết virus corona trên tấm thớt của một cửa hàng bán cá hồi nhập khẩu tại khu chợ đầu mối Xinfadi (Tân Phát Địa) thuộc quận Fengtai (Phong Đài) ở phía Tây Nam thủ đô Bắc Kinh. Tuy nhiên manh mối chỉ dừng tại đó, không xác định đâu là nguồn lây trực tiếp, từ người bán, từ khách hay từ cá hồi.

Các chợ thủy sản lớn ở Trung Quốc đã tiến hành các xét nghiệm Axit Nucleic (NAT) cho nhân viên và các mẫu môi trường như là một phản ứng nhanh với tình hình bùng phát dịch COVID-19 mới ở Bắc Kinh. Sự cố ở chợ Xinfadi (Bắc Kinh) đã tác động không nhỏ đến thị trường thủy sản nhập khẩu trên khắp Trung Quốc và chuỗi cung ứng thế giới, trong đó có cá tra Việt Nam.

Ngoại tệ Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Giá bán
USD 24610.00 24635.00 24955.00
EUR 26298.00 26404.00 27570.00
GBP 30644.00 30829.00 31779.00
HKD 3107.00 3119.00 3221.00
CHF 26852.00 26960.00 27797.00
JPY 159.81 160.45 167.89
AUD 15877.00 15941.00 16428.00
SGD 18049.00 18121.00 18658.00
THB 663.00 666.00 693.00
CAD 17916.00 17988.00 18519.00
NZD   14606.00 15095.00
KRW   17.59 19.18
DKK   3531.00 3662.00
SEK   2251.00 2341.00
NOK   2251.00 2341.00

Nguồn: Agribank

Điều chỉnh kích thước chữ