[Gặp gỡ thứ Tư] TS. Nguyễn Viết Lợi: Nhiều vấn đề cần cải thiện nếu muốn đón 'đại bàng' về 'làm tổ'

Nhàđầutư
"Nếu muốn đón 'đại bàng' về 'làm tổ', thể chế và chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam cần tạo khung khổ pháp lý cho việc đa dạng hóa các hình thức đầu tư, hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, trao đổi lao động kỹ thuật", TS. Nguyễn Viết Lợi nhấn mạnh.
HOÀNG VĂN
12, Tháng 08, 2020 | 06:57

Nhàđầutư
"Nếu muốn đón 'đại bàng' về 'làm tổ', thể chế và chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam cần tạo khung khổ pháp lý cho việc đa dạng hóa các hình thức đầu tư, hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, trao đổi lao động kỹ thuật", TS. Nguyễn Viết Lợi nhấn mạnh.

Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc Đổi mới vào tháng 12/1986. Một năm sau, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành. Vì vậy, hành trình thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) của Việt Nam cũng gần như song trùng với quá trình phát triển của nền kinh tế.

Tuy nhiên, bối cảnh mới đang đòi hỏi Chính phủ phải nhanh chóng hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác ĐTNN của Việt Nam. Xung quanh vấn đề này, Nhadautu.vn đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Viế́t Lợi, Viện trưởng Viện Chiế́n lược và Chính sách Tài chính.

Ông đánh giá như thế nào về những đóng góp của ĐTNN với sự phát triển kinh tế của Việt Nam những năm qua?

TS. Nguyễn Viết Lợi: Qua từng giai đoạn, để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội cũng như những thay đổi về dòng chảy đầu tư toàn cầu, thể chế, chính sách thu hút ĐTNN của Việt Nam đã có những sửa đổi tương thích, tạo nền tảng cho hành trình hơn 30 năm thu hút ĐTNN.

Ví dụ, trong giai đoạn đầu, ĐTNN đóng vai trò như một "cú hích" nhằm tạo sự đột phá - vừa bổ sung nguồn lực quan trọng cho đầu tư phát triển, vừa khơi dậ̣y các nguồn lực trong nước, để khai thác, tậ̣n dụng các tiềm năng, lợi thế - đưa đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn, khủng hoảng.

Kết quả, chỉ 10 năm sau Đổi mới, với sự hỗ trợ của nguồn lực ĐTNN, tăng trưởng GDP bình quân hằ̀ng năm đã đạt 8,2%, tạo nền tảng để kinh tế - xã hội tiếp tục tăng trưởng và phát triển cho giai đoạn tiếp theo. Điều đó cho thấy ĐTNN đã phần nào đáp ứng được kỳ vọng trong mục tiêu thu hút ĐTNN để phát triển kinh tế đất nước và đặc biệt quan trọng khi nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.

FDI

TS. Nguyễn Viết Lợi cho rằng nhiều vấn đề phải cải thiện để thu hút "đại bàng FDI về làm tổ". Ảnh: PV.

Nếu nhìn rộng hơn, kể từ năm 1987 đến nay, thu hút vốn ĐTNN luôn được đánh giá là một trong những thành tựu nổi bật của kinh tế Việt Nam. Lũy kế đến ngày 20/3/2020, cả nước có 31.665 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 370 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 215,63 tỷ USD, bằ̀ng 58,3% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

Những số liệu này cho thấy khu vực ĐTNN có những đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện ở một số điểm.

Thứ nhất, ĐTNN là nguồn lực quan trọng đóng góp lớn vào tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và đã trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Tỷ trọng vốn ĐTNN trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng dần, từ gần 15% năm 2005 lên 23% năm 2019; riêng năm 2008 tỷ trọng này lên tới 30,8%.

Thứ hai, đóng góp của ĐTNN vào tăng trưởng kinh tế cũng ngày càng cao, nếu giai đoạn 1986 - 1996, khu vực ĐTNN đóng góp 15,04% thì đến giai đoạn 2010 - 2019 đã đóng góp khoảng 18% trong tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, khu vực ĐTNN cũng đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách, với giá trị nộp ngân sách tăng từ 1,8 tỷ USD (giai đoạn 1994 - 2000) lên 14,2 tỷ USD (giai đoạn 2001 - 2010). Giai đoạn 2011 - 2015, thu ngân sách từ khu vực FDI đạt 23,7 tỷ USD, chiếm gần 14% tổng thu ngân sách; năm 2019, khu vực FDI đã đóng góp vào thu ngân sách khoảng 8,4 tỷ USD, chiếm khoảng 14% tổng thu ngân sách nhà nước.

Thứ tư, ĐTNN cũng đã góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khoảng 58,4% vốn ĐTNN tậ̣p trung vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằ̀ng chung của cả nước, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế, như viễn thông, dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin..., tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn, cũng như thúc đẩy quá trình hiện đại hóa - công nghiệp hóa của đất nước .

Thứ năm, ĐTNN còn đóng góp quan trọng cho thúc đẩy và mở rộng thị trường xuất khẩu, chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và từng bước đưa Việt Nam tham gia vào mạng sản xuất và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khu vực doanh nghiệp có vốn ĐTNN ngày càng có tác động chi phối đối với xuất khẩu, nhậ̣p khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam.

Trong giai đoạn 2008-2018, khu vực có vốn ĐTNN luôn chiếm trên 50%, đặc biệt giai đoạn từ 2016 đến nay, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn ĐTNN chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Xuất khẩu của khu vực ĐTNN đã góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng hàng xuất khẩu là khoáng sản, hàng sơ chế sang tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo; cung cấp cho thị trường trong nước các sản phẩm có chất lượng, thay thế được hàng hóa nhập khẩu.

Nhìn từ kết quả thu hút ĐTNN của Việt Nam, phải chăng vấn đề lớn nhất là các doanh nghiệp ĐTNN chưa tạo ra "cú hích" mạnh mẽ cho các khu vực doanh nghiệp khác so với những lợi thế họ được thụ hưởng?

TS. Nguyễn Viết Lợi: Phải nói hầu hết các doanh nghiệp ĐTNN hoạt động sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề đều là những cá thể riêng biệt, tách rời nên chưa tạo sự lan tỏa cũng như hình thành chuỗi liên kết, hình thành các cụm ngành có khả năng cạnh tranh cao mà các khu vực doanh nghiệp trong nước có thể tham gia.

Bên cạnh đó, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam cũng chưa đạt được các mục tiêu cũng như các định hướng chính sách đã đặt ra, như: Thu hút ĐTNN vào các ngành lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, chế biến nông sản, thủy sản, sản xuất phần mềm và năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng rất thấp, ĐTNN vào ngành nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 1%.

Ngoài ra, dòng vốn ĐTNN tập trung chủ yếu ở những vùng có kết cấu hạ tầng thuận lợi như Hà Nội, TP.HCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bắc Ninh… chiếm 85% tổng số dự án và 67% tổng số vốn đăng ký đầu tư trên cả nước. Trong khi ĐTNN vào các địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn chỉ chiếm một con số khiêm tốn (khoảng 4% số dự án và 5% tổng vốn đầu tư đăng ký vào các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa như Tây Nguyên, Trung du và miền núi phía Bắc.

Tiếp đó, chuyển biến trong cơ cấu xuất khẩu của giai đoạn vừa qua được đánh giá là chưa đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Ví dụ, với trường hợp của Samsung, 80% số linh kiện được sử dụng trong các sản phẩm của doanh nghiệp này vẫn đến từ các nhà cung cấp Hàn Quốc, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ tham gia vào chưa đến 10% giá trị chuỗi cung ứng, sản xuất; vấn đề chuyển giá và vốn mỏng trong các doanh nghiệp ĐTNN vẫn diễn ra hết sức phức tạp với nhiều hình thức, gây thất thoát cho NSNN.

Thêm vào đó là rủi ro về an ninh và môi trường, điển hình như thảm họa môi trường biển ở miền Trung tại 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế do dự án thép của Tập đoàn Formosa gây ra với thiệt hại trong ngắn hạn và dài hạn đến cả môi trường sinh thái và đời sống nhân dân.

Một điểm trừ khác là liên kết giữa doanh nghiệp ĐTNN với các doanh nghiệp cung ứng trong nước còn yếu. Các dự án ĐTNN vẫn chủ yếu là lắp ráp, gia công, chưa đạt được mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam chưa cao.

Cuối cùng, tuy đã có thu hút được nhiều công nghệ tốt nhưng chưa đạt được mục tiêu thu hút công nghệ (công nghệ cao, công nghệ nguồn) và chuyển giao công nghệ cũng như mức độ lan tỏa không đạt kỳ vọng;…

Theo ông, những tồn tại, hạn chế nêu trên trên xuất phát từ nguyên nhân nào?

TS. Nguyễn Viết Lợi: Đầu tiên, cơ sở pháp lý quan trọng trong thu hút và quản lý đầu tư hiện nay là Luật Đầu tư 2014. Tuy nhiên, một số nội dung liên quan đến thủ tục về đầu tư, đất đai, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản, môi trường... chưa đảm bảo tính thống nhất, còn chồng chéo, trùng lắp với các luật chuyên ngành.

Điển hình như quy định về thủ tục quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư trùng lặp với quy định về thủ tục chấp thuận/quyết định đầu tư dự án nhà ở, phát triển đô thị theo quy định của pháp luậ̣t về nhà ở, đô thị và chồng chéo với thủ tục chấp thuận/cấp giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực hàng không, hàng hải, giáo dục, khoa học, công nghệ.

Một số điều kiện kinh doanh phục vụ chủ yếu yêu cầu quản lý, tạo rào cản cho nhà đầu tư như yêu cầu phải sở hữu phương tiện, máy móc, thiết bị; yêu cầu nhân viên quản lý hoặc vận hành của doanh nghiệp phải được đào tạo, tập huấn do cơ quan nhà nước tổ chức và thu tiền…).

Thứ hai, các quy định về hình thức đầu tư, kinh doanh chưa tương thích với xu hướng thay đổi phương thức đầu tư toàn cầu và xu hướng thay đổi trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Phân tích hoạt động đầu tư ra nước ngoài trên phạm vi toàn cầu thấy rằng đang có sự thay đổi về phương thức đầu tư thông qua chuỗi giá trị.

Theo đó, các tập đoàn đa quốc gia chuyển sang tìm kiếm và đầu tư vào thị trường tiềm năng mà không cần góp vốn (phương thức ĐTNN không sử dụng vốn chủ sở (NEM)) hoặc Hình thức đầu tư mới (NFI) như thuê gia công, thuê ngoài dịch vụ, khoán nông nghiệp, nhượng quyền, cấp phép và quản lý theo hợp đồng nhằ̀m tìm kiếm kết quả kinh doanh tốt hơn.

Các chuyên gia quốc tế dự báo, hình thức đầu tư mới sẽ nhanh chóng trở thành xu hướng tại Việt Nam với mục tiêu thu hút vốn FDI thế hệ mới. Phương thức đầu tư xuyên biên giới không góp vốn sẽ cho phép các tập đoàn đa quốc điều phối các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu thông qua việc hỗ trợ cho các nhà cung ứng nội địa, từ đó tăng cường liên kết các doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị.

Thứ ba, ưu đãi đầu tư dàn trải, hình thức, tiêu chí, điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư thiếu tính linh hoạt, chưa thật sự hướng mạnh vào việc thu hút các nguồn lực đầu tư nhằ̀m cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên sáng tạo và đổi mới công nghệ, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa các ngành, vùng, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn ĐTNN...

Theo quy định của Luật Đầu tư có 30 lĩnh vực khuyến khích đầu tư và 27 lĩnh vực được hưởng ưu đãi đặc biệt khi đầu tư. Trong khi đó, theo tiêu chí ngành nghề - lĩnh vực, có tới 90% số lượng các ngành kinh tế cấp II và 33% các ngành kinh tế cấp III được hưởng ưu đãi thuế.

Theo tiêu chí địa bàn đầu tư, thì có tới 32% địa phương thuộc diện ưu đãi và 24% số địa phương thuộc diện ưu đãi đặc biệt. Bên cạnh đó còn có hơn 300 khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu cũng thuộc diện ưu đãi.

Thứ tư, quy trình, thủ tục cấp, điều chỉnh, thu hồi, chấm dứt hoạt động của dự án ĐTNN chưa bảo đảm chặt chẽ; công tác quản lý, triển khai dự án đầu tư còn nhiều bất cậ̣p; công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động ĐTNN chưa thực sự phát huy hiệu quả... Điển hình như các thủ tục triển khai dự án đầu tư (như điều chỉnh, chuyển nhượng, giãn tiến độ, chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư...) chưa được quy định cụ thể và chưa bảo đảm tính thống nhất với quy định tương ứng của pháp luật về đất đai, kinh doanh bất động sản, nhà ở,...; hình thức bảo đảm thực hiện dự án đầu tư còn thiếu tính đa dạng (chỉ áp dụng dưới hình thức ký quỹ).

Việc xây dựng chiến lược và chính sách trong thu hút FDI kỷ nguyên mới đã được đề cậ̣p tại Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết số 50-NQ/TW. Vậy chúng ta cần làm gì để thu hút dòng vốn FDI chất lượng về Việt Nam, thưa ông?

TS. Nguyễn Viết Lợi: Để hoàn thiện thể chế, chính sách nhằ̀m nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác ĐTNN tại Việt Nam, chúng ta cần tiếp tục quán triệt quan điểm hợp tác ĐTNN để bổ sung cho nội lực, tạo điều kiện để sử dụng nội lực có hiệu quả cao hơn.

Cơ chế, chính sách thu hút ĐTNN cần phải thể hiện được tinh thần “win – win”, trong đó “win” đối với khu vực doanh nghiệp trong nước là nhận được sự hỗ trợ từ nguồn lực bên ngoài để rút ngắn giai đoạn phát triển, rút ngắn khoảng cách lạc hậu về công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, có cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu với giá trị gia tăng cao. Cần khẳng định thu hút ĐTNN không phải để tạo ra khu vực doanh nghiệp thay thế hay triệt tiêu sự phát triển của khu vực doanh nghiệp trong nước.

Hoàn thiện thể chế, chính sách nhằ̀m nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác ĐTNN trong thời gian tới phải phù hợp, đồng bộ với các chính sách, chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực của quốc gia đã đề ra, thực hiện được mục tiêu phát triển công nghiệp quốc gia đến 2030, tầm nhìn đến 2045. Trong đó, các chính sách phải bắt kịp các xu hướng vận động mới của dòng vốn ĐTNN trên thế giới.

Chú trọng xây dựng thể chế, chính sách trong hợp tác ĐTNN không dàn trải, chung chung mà cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên (như công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đầu tư cho con người (chính sách tài chính, chính sách đầu tư vào y tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo); logistic; sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là các ngành nghề mới trên nền tảng công nghiệp 4.0.); tập trung phát triển vùng, miền.

Quán triệt quan điểm không xây dựng chính sách hỗ trợ, ưu đãi (đặc biệt về tài chính), đánh đổi môi trường để thu hút đầu tư bằng mọi giá. Chuyển từ chính sách khuyến khích, hỗ trợ trước, có thời hạn như hiện tại sang chính sách hỗ trợ sau khi có kết quả, đáp ứng các điều kiện về hợp tác đầu tư.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bình luận
Sàn
VN-Index
912,50 +4,23 / +0,47%
Lúc 28/09/2020 15:59:45
Cao nhất
06/11/2019
1023,42
Thấp nhất
31/03/2020
649,10
 
Giao dịch hôm nay
SLGD: 373
KLGD: 420.240.133
GTGD: 7,25 triệu
Sàn
HNX-Index
133,19 +1,67 / +1,27%
Lúc 28/09/2020 15:59:45
Cao nhất
23/09/2020
132,03
Thấp nhất
01/04/2020
89,70
 
Giao dịch hôm nay
SLGD: 192
KLGD: 58.082.375
GTGD: 782.172,00
Sàn
UPCOM-Index
61,78 +0,49 / +0,80%
Lúc 28/09/2020 15:59:45
Cao nhất
25/09/2020
60,93
Thấp nhất
23/03/2020
47,41
 
Giao dịch hôm nay
SLGD: 312
KLGD: 33.559.452
GTGD: 464.906,00

Nguồn: VPBS

Điều chỉnh kích thước chữ