

Sau gần 40 năm kiên định đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, kinh tế Việt Nam đã mở rộng quy mô, từ 8 tỷ USD năm 1986 lên hơn 510 tỷ USD năm 2025, tạo nền tảng quan trọng để bước vào giai đoạn phát triển mới.
Tính đến hiện tại, khu vực kinh tế tư nhân có khoảng 940.000 doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, các động lực tăng trưởng truyền thống như lao động giá rẻ, gia công lắp ráp hay mở rộng vốn đầu tư "đang dần suy giảm hiệu lực". Khi dư địa cũ cạn dần, tăng trưởng buộc phải chuyển sang dựa vào năng suất, công nghệ và năng lực nội sinh.
Không có quốc gia nào bước vào hàng ngũ cường quốc mà thiếu vắng những tập đoàn kinh tế tư nhân đủ lớn để dẫn dắt. Đây không phải là một khẩu hiệu chính sách, mà là quy luật phát triển đã được kiểm chứng qua lịch sử công nghiệp hóa.
Nhật Bản thời hậu chiến không thể trở lại vị thế kinh tế hàng đầu nếu thiếu những Toyota hay Mitsubishi. Hàn Quốc không thể vươn mình thành nền kinh tế công nghệ cao nếu không có Samsung, Hyundai hay LG. Những tập đoàn này không chỉ tạo ra sản phẩm, mà còn tổ chức lại toàn bộ cấu trúc sản xuất quốc gia, dẫn dắt công nghệ, mở rộng thị trường và kéo theo hàng nghìn doanh nghiệp vệ tinh.
Ở chiều ngược lại, những nền kinh tế thiếu vắng doanh nghiệp dẫn dắt thường rơi vào vòng luẩn quẩn: tăng trưởng dựa vào gia công, phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài và khó nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam đang đứng đúng tại giao điểm đó. Nhận thấy điều này, thời gian qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành một loạt quyết sách, chủ trương trọng yếu. Đáng chú ý là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
Theo TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), điểm gặp nhau của các định hướng này là yêu cầu phải hình thành nhanh lực lượng doanh nghiệp vừa và lớn, phát triển các tập đoàn kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc tế, đồng thời phát huy vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực nền tảng, chiến lược và những không gian công nghệ có ý nghĩa đối với an ninh kinh tế quốc gia.

Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; Nghị quyết 79-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
TS. Bùi Thanh Minh cho rằng, các động lực tăng trưởng truyền thống như lao động giá rẻ, gia công lắp ráp hay mở rộng vốn đầu tư "đang dần suy giảm hiệu lực". Khi dư địa cũ cạn dần, tăng trưởng buộc phải chuyển sang dựa vào năng suất, công nghệ và năng lực nội sinh.
"Vấn đề là, Việt Nam vẫn thiếu lực lượng doanh nghiệp đủ mạnh để đảm đương vai trò đó", ông Minh nhấn mạnh.
Nhìn vào cấu trúc hiện tại, khu vực doanh nghiệp trong nước dù đông về số lượng nhưng mỏng về chất lượng. Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ trọng áp đảo, trong khi số doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh khu vực và toàn cầu còn rất hạn chế. Thành tích xuất khẩu phần lớn vẫn thuộc về khu vực FDI. Nói cách khác, nền kinh tế có "sản lượng", nhưng chưa có "quyền lực".

Theo ông Minh, vấn đề cốt lõi hiện nay, không còn là có nên phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực hay không, mà là làm thế nào để kiến tạo được một thể chế phát triển và cơ chế phân bổ nguồn lực đủ hiệu quả nhằm hình thành những tập đoàn kinh tế thực chất, có năng lực cạnh tranh thực sự, làm chủ công nghệ lõi, có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường khu vực và toàn cầu. Nói cách khác, phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực không phải là một mục tiêu riêng lẻ của chính sách doanh nghiệp, mà là một nội dung trung tâm của bài toán đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên tăng trưởng mới.
Đồng quan điểm, PGS.TS. Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cũng cho rằng, khu vực doanh nghiệp nội địa của Việt Nam vẫn đang đối mặt với rất nhiều vấn đề.
Theo ông Thiên, muốn trở thành cường quốc kinh tế thì phải có những tập đoàn kinh tế mạnh, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế tư nhân hùng mạnh. Không chỉ là những tập đoàn có quy mô quốc gia, mà còn phải là những doanh nghiệp đủ năng lực cạnh tranh toàn cầu, từng bước trở thành các tập đoàn xuyên quốc gia hoặc đa quốc gia.
Đồng thời, nền kinh tế hiện đại vận hành theo chuỗi, mà muốn hình thành chuỗi thì phải có các tập đoàn dẫn dắt.
"Đây là câu chuyện sống còn. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, để tạo nên "thần kỳ kinh tế", cần có một Nhà nước thông minh, kiến tạo, đồng thời phải có khu vực tư nhân đủ mạnh để đảm đương vai trò đầu tàu", chuyên gia Trần Đình Thiên khẳng định.
Về phía doanh nghiệp, ông Lê Khắc Hiệp, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, đặt vấn đề: "Khi nào Việt Nam có thể sở hữu được những ngành công nghiệp chế tạo có năng lực nội sinh đủ mạnh để dẫn dắt tăng trưởng dài hạn và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu".
Với ông, ô tô chính là câu trả lời rõ ràng nhất. Thực tế cho thấy, ngành ô tô Việt Nam chủ yếu dừng ở lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc nặng vào linh kiện nhập khẩu. Cấu trúc này tạo ra một nghịch lý: thị trường tiêu thụ tăng trưởng nhanh, nhưng giá trị gia tăng nội địa lại mỏng.

Ở góc nhìn của mình, PGS-TS. Trần Đình Thiên cho rằng, Việt Nam chậm hình thành một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, khiến khu vực tư nhân trong nhiều giai đoạn bị trói buộc. Doanh nghiệp Việt Nam vốn đã trẻ, nhỏ và yếu, nếu tiếp tục bị ràng buộc quá mức thì rất khó trưởng thành. Vấn đề xây dựng lực lượng doanh nghiệp dân tộc là cực kỳ quan trọng. Nếu tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp Việt Nam còn quá ngắn, thì làm sao có thể hình thành các doanh nghiệp lớn, đủ sức trở thành trụ cột? Hiện nay, lực lượng doanh nghiệp trụ cột của chúng ta vẫn còn quá mỏng.
Trong khi đó, nền kinh tế ở trình độ càng cao thì cạnh tranh càng khốc liệt. Chuỗi sản xuất của Việt Nam hiện vẫn yếu, năng lực cạnh tranh toàn cầu còn hạn chế. Sứ mệnh đặt lên vai doanh nghiệp Việt Nam là rất nặng nề: vừa phải chống chịu nhiều tác động khách quan, vừa được giao vai trò là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Còn TS. Bùi Thanh Minh nhìn nhận, thực trạng của Việt Nam hiện nay là sự thiếu hụt nghiêm trọng của hai mắt xích quan trọng gồm, thiếu doanh nghiệp trung gian và hệ sinh thái vendor (nhà cung cấp – PV) đủ mạnh.
Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam dừng ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Trong khi đó, lớp doanh nghiệp vừa, có khả năng phát triển thành doanh nghiệp lớn, lại rất mỏng.
Điều này khiến quá trình tích tụ và nâng cấp bị đứt gãy. Ngay cả khi có doanh nghiệp đầu tàu, chuỗi cung ứng nội địa vẫn chưa đủ sâu. Nhiều doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật, thiếu vốn đầu tư và kinh nghiệm quản trị để tham gia vào chuỗi giá trị.
Dẫn chứng từ trường hợp những "chaebol" của các quốc gia Đông Á và nhiều trường hợp, ông Minh cho rằng, để phát triển, Việt Nam có ba bài toán cần giải.
Đầu tiên, muốn vượt bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam phải tiếp tục theo đuổi mô hình tăng trưởng hướng mạnh ra xuất khẩu nhưng trên nền tảng giá trị gia tăng cao hơn, làm chủ công nghệ tốt hơn và tỷ lệ nội địa hóa sâu hơn.
Tiếp theo, cần hình thành được lực lượng doanh nghiệp và tập đoàn nội địa có năng lực cạnh tranh khu vực, toàn cầu, đủ sức dẫn dắt công nghệ, thị trường và chuỗi giá trị.
Cuối cùng, Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo phát triển, tức là thiết kế thể chế, điều phối nguồn lực và xây dựng môi trường cạnh tranh để doanh nghiệp lớn lên bằng năng lực thực chất, chứ không phải bằng đặc quyền tiếp cận nguồn lực.
"Bài học lớn nhất không phải là "cần có doanh nghiệp lớn", mà là cần có một cấu trúc phát triển lành mạnh, có tính kế thừa, bổ trợ, trong đó doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và các thiết chế công cùng vận hành trong một hệ sinh thái có định hướng chiến lược, có kỷ luật thị trường và có khả năng liên tục nâng cấp năng lực cạnh tranh quốc gia", TS. Bùi Thanh Minh nhấn mạnh.
Trong khi đó, TS. Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI: cho rằng, một giải pháp rất quan trọng để phát triển khu vực kinh tế tư nhân là phải xây dựng được hệ thống thống kê phù hợp và phản ánh đúng thực tiễn, từ đó chính sách đưa ra mới có thể chính xác.

"Tôi cũng cho rằng, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cần được nhìn theo từng nhóm để đánh giá đúng thực trạng.
Hiện nay, chúng ta có một số tập đoàn lớn với mức độ tự tin và khả năng thích ứng khá cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó là khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và các hộ kinh doanh - nhóm đang gặp rất nhiều khó khăn, lợi nhuận thấp và phải vật lộn để tồn tại", ông Đậu Anh Tuấn nói.
Sự xuất hiện của VinFast trong bối cảnh đó được nhiều chuyên gia đánh giá là một bước ngoặt đáng chú ý.
Ông Lê Khắc Hiệp khẳng định, điều quan trọng không nằm ở việc xuất hiện thêm một doanh nghiệp sản xuất ô tô, mà ở cách tiếp cận hoàn toàn khác về phát triển ngành.
Nếu tính từ cột mốc bắt đầu xây dựng nhà máy sản xuất ô tô đầu tiên vào năm 2017, hành trình của VinFast sắp tròn 10 năm. Trên hành trình ấy, thay vì đi theo con đường lắp ráp, VinFast lựa chọn xây dựng một tổ hợp sản xuất tự động hóa cao ngay từ đầu, với đầy đủ các công đoạn từ nghiên cứu phát triển tới dập, hàn, sơn, sản xuất động cơ và từng bước làm chủ các công nghệ lõi. Đây là nền tảng để chuyển dịch từ "sản xuất phụ thuộc" sang "sản xuất tự chủ".
Quan trọng hơn, VinFast không phát triển như một thực thể đơn lẻ mà định vị mình như một hạt nhân trong chuỗi sản xuất, đóng vai trò kết nối và dẫn dắt mạng lưới các nhà cung cấp. Chính cách tiếp cận này đã bắt đầu tái cấu trúc ngành ô tô Việt Nam theo hướng hình thành chuỗi liên kết kinh tế nội địa.
Một yếu tố mang tính quyết định trong quá trình này là quy mô thị trường. Năm 2025, VinFast đã bàn giao hơn 175.000 xe tại Việt Nam, giữ vững vị trí thương hiệu ô tô số một tại thị trường trong nước. Con số này không chỉ tạo nên một kỷ lục về doanh số, mà quan trọng hơn, còn mang tới điều kiện nền tảng cho công nghiệp hỗ trợ phát triển mạnh mẽ.
"Sản lượng thị trường đạt đến ngưỡng đủ lớn chính là tiền đề cho hiệu quả đầu tư của chuỗi công nghiệp hỗ trợ. Khi đó, doanh nghiệp phụ trợ mới có thể mạnh dạn đầu tư sâu vào dây chuyền sản xuất, công nghệ và nhân lực. Với vai trò là doanh nghiệp hạt nhân, VinFast đã tạo ra lực kéo đủ mạnh để kích hoạt quá trình này, chuyển nhu cầu thị trường thành động lực phát triển cho toàn bộ chuỗi cung ứng", ông Hiệp khẳng định.

Trên nền tảng quy mô đó, chiến lược nội địa hóa của VinFast đóng vai trò then chốt. Tính đến năm 2025, tỷ lệ nội địa hóa xe điện đã đạt khoảng 60% và hướng tới mục tiêu 80% khi cell pin được sản xuất tại Việt Nam vào năm 2026.
Việc làm chủ các công nghệ lõi giúp doanh nghiệp kiểm soát chuỗi giá trị, giảm phụ thuộc vào bên ngoài và mở ra không gian cho các doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn.
"Khi doanh nghiệp đầu chuỗi như VinFast nắm giữ công nghệ lõi, toàn bộ hệ sinh thái phía sau sẽ có cơ hội phát triển theo, tạo ra hiệu ứng lan tỏa mà nhiều quốc gia công nghiệp đã từng trải qua", Phó Chủ tịch Vingroup khẳng định.
Nói về công nghiệp ô tô, PGS-TS. Trần Đình Thiên nêu ví dụ từ VinFast và THACO. Theo ông Thiên, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ đủ mạnh, đủ rõ, để các doanh nghiệp dẫn dắt này chủ động xác định sẽ kéo theo ai, hỗ trợ mắt xích nào, với mức độ ra sao để tạo hiệu quả lan tỏa. Đồng thời, chính các doanh nghiệp dẫn dắt cũng phải có cam kết rõ ràng về trách nhiệm, hiệu quả và năng lực lan tỏa đối với toàn chuỗi.

Ông Hiệp nêu những thực tiễn từ trường hợp của VinFast. Theo ông, tác động của VinFast đối với công nghiệp hỗ trợ thể hiện rõ nhất ở sự thay đổi về chất. Trước hết là việc giải bài toán đầu ra cho doanh nghiệp nội địa. Trong nhiều năm, không ít doanh nghiệp có năng lực cơ khí, điện tử nhưng không dám đầu tư vì thiếu thị trường ổn định.
VinFast đã tạo ra sự bảo chứng này thông qua các hợp tác dài hạn và quy mô lớn. Khi có đơn hàng ổn định, doanh nghiệp có thể tự tin đầu tư vào máy móc, nâng cấp công nghệ và mở rộng sản xuất. Đây là điều kiện tiên quyết để hình thành năng lực công nghiệp thực chất.

Đồng thời, việc tham gia vào chuỗi cung ứng của VinFast - một doanh nghiệp hướng tới thị trường toàn cầu - buộc các nhà cung cấp phải nâng cấp toàn diện về tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị chất lượng và tiêu chí phát triển bền vững. Quá trình này không chỉ giúp họ đáp ứng yêu cầu của VinFast mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh để tham gia vào các chuỗi giá trị quốc tế khác.
Đại diện Ban IV cho rằng, khi môi trường bên ngoài ngày càng biến động, xu thế toàn cầu hóa theo nghĩa truyền thống đang chậm lại và cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gay gắt, yêu cầu tăng cường nội lực của nền kinh tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh việc tạo điều kiện để hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực, chính sách cũng phải đặc biệt coi trọng việc nuôi dưỡng hệ sinh thái cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ông Minh ví von: "Cần làm tổ cho "đại bàng", nhưng cũng cần những cánh đồng rộng lớn và tự do cho "chim sẻ". Chỉ khi hình thành được một cấu trúc như vậy, trong đó doanh nghiệp lớn dẫn dắt, doanh nghiệp vừa và nhỏ lan tỏa, còn Nhà nước kiến tạo phát triển, Việt Nam mới có thể tạo dựng được nền tảng doanh nghiệp đủ mạnh cho một mô hình tăng trưởng mới".

Vấn đề không còn dừng ở việc hỗ trợ một số doanh nghiệp mở rộng quy mô, mà phải hướng tới kiến tạo một lớp doanh nghiệp và tập đoàn đủ lớn, đủ mạnh, đủ tự chủ.
Trong khi đó, ông Đậu Anh Tuấn lo ngại doanh nghiệp Việt Nam lại bị hạn chế bởi vốn, đất đai, thủ tục và nhân lực. Vì vậy, cơ hội để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trở thành nhà cung cấp trong chuỗi của các tập đoàn lớn vẫn còn rất khó khăn.
"Tôi khá lo ngại về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa trong lĩnh vực sản xuất, cũng như khu vực doanh nghiệp nhỏ đông đảo hiện nay.
Ngược lại, với nhóm doanh nghiệp lớn, tôi có mức độ lạc quan cao hơn, bởi họ có nguồn lực, có động lực phát triển và đang được hưởng một môi trường kinh doanh ngày càng cởi mở hơn. Tóm lại, doanh nghiệp tư nhân cần được phân nhóm rõ ràng để đánh giá đúng thực trạng, từ đó thiết kế chính sách hỗ trợ trúng nhóm đối tượng và đúng vấn đề", ông Tuấn nêu giải pháp.
Theo TS. Bùi Thanh Minh, trước hết, đột phá phải bắt đầu từ thể chế kiến tạo. Một môi trường phát triển lành mạnh cho các tập đoàn kinh tế chủ lực không thể hình thành nếu quyền tài sản chưa được bảo đảm đầy đủ, quyền tự do kinh doanh còn bị hạn chế bởi các rào cản hành chính, và chi phí tuân thủ vẫn bị đẩy lên bởi tình trạng chồng chéo, phân tán và thiếu nhất quán của hệ thống pháp luật.
Cải cách thể chế trong giai đoạn tới phải hướng tới việc thiết lập một khuôn khổ minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao, trong đó doanh nghiệp lớn lên bằng năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực, chứ không phải bằng phương thức tiếp cận đặc quyền hay quan hệ hành chính. Cùng với đó, cần mở đường về mặt pháp lý cho quá trình tích tụ và tập trung nguồn lực theo cơ chế thị trường, coi đây là điều kiện thiết yếu để hình thành các doanh nghiệp có quy mô đủ lớn trong những ngành đòi hỏi vốn cao, công nghệ cao và tầm nhìn đầu tư dài hạn.

Cùng với cải cách thể chế, việc phát triển thị trường vốn trong nước phải được xem là một đột phá chiến lược để giải quyết bài toán nguồn lực cho doanh nghiệp trưởng thành. Một nền kinh tế muốn có các tập đoàn mạnh không thể chỉ dựa chủ yếu vào vốn ngắn hạn. Điều thiết yếu là phải hình thành được một cấu trúc tài chính đa tầng, trong đó thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư cho khoa học công nghệ, chuyển đổi số và công nghiệp chiến lược cùng vận hành theo hướng tương hỗ. Đặc biệt, đối với những dự án có tính đột phá quốc gia, Nhà nước cần đóng vai trò "kiến tạo thị trường", thiết kế cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý để kéo khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào những lĩnh vực có mức độ bất định cao nhưng tác động lan tỏa lớn.
Trọng tâm tiếp theo là phải đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí hạt nhân của chiến lược phát triển tập đoàn kinh tế chủ lực. Bên cạnh đó, cần tái định vị vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân trong một cấu trúc phát triển bổ trợ lẫn nhau. Một yêu cầu có ý nghĩa quyết định khác là phải thiết kế cơ chế liên kết chuỗi theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. Cuối cùng, phát triển tập đoàn kinh tế chủ lực chỉ có thể hiệu quả khi đi cùng với sự lựa chọn chiến lược về ngành và lĩnh vực ưu tiên.
VinFast đã chứng minh một điều, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng một doanh nghiệp có khả năng làm chủ công nghệ và tổ chức chuỗi giá trị. Nhưng một nền kinh tế không thể bứt phá nếu chỉ có một doanh nghiệp như vậy.
Bài toán cốt lõi không phải là tạo ra một đầu tàu, mà là hình thành một hệ thống đầu tàu - mỗi doanh nghiệp dẫn dắt một ngành, mỗi ngành tạo ra một chuỗi giá trị.
Phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực không phải là mục tiêu riêng lẻ, mà là trung tâm của bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
VinFast có thể là khởi đầu. Nhưng tương lai của nền kinh tế sẽ được quyết định bởi việc Việt Nam có tạo ra được nhiều "VinFast" khác hay không.