Đổi mới chính sách thuế hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới

NGUYỄN THỊ HOA - NGUYỄN VĂN PHỤNG (*)
07:00 23/07/2026

Định hướng đổi mới chính sách thuế trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung vào cách thức tổ chức thực hiện, cơ chế tiếp cận chính sách và hệ thống chỉ tiêu đánh giá. Trọng tâm không phải là ban hành thêm nhiều ưu đãi, mà là nâng cao hiệu quả của từng công cụ thuế.

Đổi mới chính sách thuế hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới. Ảnh: MXH

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu đặt ra không chỉ là đạt tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải nâng cao chất lượng, tính bền vững và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế (Chính phủ, 2026).

Ở tầm trung hạn, Nghị quyết số 25/2026/QH16 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026-2030 đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, đồng thời thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới (Quốc hội, 2026b).

Trong việc đánh giá tiến trình thực hiện các mục tiêu nêu trên, cần phân biệt giữa phân loại nền kinh tế theo thu nhập của Ngân hàng Thế giới và mục tiêu phát triển quốc gia. Từ ngày 01/7/2026, tương ứng với năm tài khóa 2027 của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được chuyển từ nhóm nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp sang nhóm nền kinh tế có thu nhập trung bình cao. Việc phân loại được thực hiện hằng năm trên cơ sở GNI bình quân đầu người của năm dương lịch liền trước, tính theo phương pháp Atlas của Ngân hàng Thế giới, và được sử dụng cho mục đích phân tích, thống kê cũng như một số hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng Thế giới. Vì vậy, việc Việt Nam sớm được xếp vào nhóm nước thu nhập trung bình cao là một dấu mốc quan trọng, nhưng không đồng nghĩa với việc đã hoàn thành mục tiêu quốc gia đến năm 2030. Mục tiêu này còn bao hàm những yêu cầu rộng lớn hơn về trình độ công nghiệp, năng suất, khoa học – công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, thể chế phát triển và mức sống của người dân (World Bank, 2026).

Kết quả sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy nền kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, song khoảng cách đến mục tiêu tăng trưởng hai con số vẫn còn lớn. GDP quý II/2026 ước tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước, qua đó đưa tốc độ tăng GDP sáu tháng đầu năm lên 8,18%. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế trong sáu tháng đầu năm, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20%; khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66% (Cục Thống kê, 2026). Những kết quả này cho thấy các động lực tăng trưởng tiếp tục được củng cố, đặc biệt trong công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhưng tốc độ đạt được vẫn thấp hơn đáng kể so với kịch bản cần thiết để hoàn thành mục tiêu cả năm.

Triển khai thực hiện Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 tại Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XIV), Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 về cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm trong những quý còn lại, tiếp tục xác định mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo kịch bản điều chỉnh kèm theo Nghị quyết, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm, GDP trong sáu tháng cuối năm phải tăng khoảng 11,9%. Đây là mức tăng trưởng rất cao, đòi hỏi các chính sách tài khóa, tiền tệ, đầu tư công, phát triển doanh nghiệp và cải cách thể chế phải được phối hợp chặt chẽ, nhưng đồng thời không được làm gia tăng mất cân đối vĩ mô hoặc suy giảm tính bền vững tài khóa (Chính phủ, 2026g).

Trong bối cảnh đó, kiên trì theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hai con số trong các năm tiếp theo, chính sách thuế cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là một bộ phận quan trọng của chính sách phát triển. Thông qua việc tác động đến tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, đổi mới công nghệ và quyết định phân bổ nguồn lực của các chủ thể kinh tế, chính sách thuế có thể góp phần hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn, khuyến khích mở rộng năng lực sản xuất và nâng cao năng suất trong trung và dài hạn.

Trên cơ sở quan sát kết quả bước đầu triển khai thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030, dưới góc nhìn của doanh nghiệp, người dân – là đối tượng chịu tác động của chính sách, pháp luật thuế, bài viết có một số ý kiến về chủ đề: Đổi mới chính sách thuế hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới.

Triển khai thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030

Với quan điểm xuyên suốt: Thuế, phí, lệ phí là công cụ của Nhà nước góp phần quản lý, điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế, động viên các nguồn lực đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng chất lượng, hiệu quả, phát triển nhanh, bền vững,… Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030[1] (Chiến lược thuế 2030) đã đề ra các mục tiêu: "Về quy mô thu ngân sách từ thuế, phí, bảo đảm duy trì tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước từ thuế, phí ở mức ổn định, hợp lý và phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn 05 năm 2021 - 2025 và 2026 - 2030, trong giai đoạn đầu tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, người dân khắc phục khó khăn, phục hồi sản xuất, kinh doanh do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19. Cụ thể:

- Đến năm 2025: tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân không thấp hơn 16% GDP, trong đó, tỷ lệ huy động từ thuế, phí khoảng 13 - 14% GDP; tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước phấn đấu đến năm 2025 đạt khoảng 85 - 86%. Trong giai đoạn đầu tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, người dân khắc phục khó khăn, phục hồi sản xuất, kinh doanh do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19.

- Đến năm 2030: tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước khoảng 16 - 17% GDP, trong đó, tỷ lệ huy động từ thuế, phí khoảng 14 - 15% GDP; tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước phấn đấu đến năm 2030 đạt khoảng 86 - 87%."

Triển khai thực hiện Chiến lược thuế 2030, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành 5 đạo luật mới (được xem là các luật trụ cột của hệ thống thuế),[2] theo định hướng mở rộng cơ sở thu, đối tượng thu, bao quát các nguồn thu mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế, bảo đảm huy động hợp lý các nguồn lực cho ngân sách nhà nước (NSNN) với mức điều tiết hợp lý, đồng thời khuyến khích đầu tư, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, thuận lợi. Có thể nói, diện đối tượng là hàng hóa, dịch vụ chịu thuế, các hoạt động kinh tế mới phát sinh, dịch vụ xuyên biên giới … đã được bổ sung vào quy định trong Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB).

Các nguồn thu nhập mới phát sinh, các đối tượng có phát sinh doanh thu, thu nhập nhưng không hiện diện tại Việt Nam cũng đã được bổ sung vào Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Các chính sách khuyến khích đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc; khuyến khích nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ cao, vươn tới làm chủ công nghệ cũng được đưa vào quy định trong các luật mới nêu trên.

Đồng thời với việc triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất, xây dựng các dự thảo văn bản pháp luật để trình hoàn thiện hệ thống pháp luật thể chế về chính sách thuế, công tác quản lý thuế luôn được coi trọng và triển khai một cách toàn diện, đồng bộ trong tất cả các khâu: nội dung quản lý; quy trình, thủ tục quản lý; công nghệ quản lý và bộ máy quản lý thuế. Liên tục cải tiến, hoàn thiện các quy trình, thủ tục, biện pháp quản lý để đơn giản hóa thủ tục hành chính; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số nhằm giảm chi phí tuân thủ thuế của doanh nghiệp và người dân, ... là những việc lớn thể hiện sự cố gắng, nỗ lực của ngành Thuế được xã hội ghi nhận và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao.

Việc triển khai thực hiện Chiến lược thuế 2030, giai đoạn 2021 - 2025 tiến hành trong bối cảnh kinh tế - xã hội nước ta có nhiều thay đổi, nền kinh tế có những thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng đan xen nhiều khó khăn, thách thức mới. Dựa trên cơ sở là sản xuất kinh doanh được duy trì và phát triển; pháp luật thể chế được cập nhật, hoàn thiện theo mục tiêu định hướng; và sự điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ rất sát sao, quyết liệt, nhiệm vụ thu NSNN nhiều năm được hoàn thành, tăng trưởng khá, thể hiện ở một vài con số sau đây:

So với dự toán thu được Quốc hội giao: Năm 2021 thu vượt 18,47%, năm 2022 vượt thu 28,94 %, năm 2023 vượt 9,26%, năm 2024 vượt 20,15% và năm 2025 đạt kết quả cao nhất, vượt dự toán 34,74%.

So với số thực hiện năm trước liền kề: Năm 2021 tăng trưởng +5,35% so với năm 2020; Năm 2022 tăng trưởng +14,38%; Năm 2023 tăng trưởng âm (-) 2,72%; Năm 2024 tăng trưởng +15,41%; và 2025 là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất (+29,67%).

Tổng số thu NSNN so với GDP: Năm 2020 đạt tỷ lệ 18,78%; Năm 2021 tỷ lệ 18,75%; Năm 2022 đạt tỷ lệ 18,92%; Năm 2023 tỷ lệ 17,16%; Năm 2024 đạt tỷ lệ 17,75% và 2025 cũng là năm đạt tỷ lệ cao nhất 20,63% (Biểu đồ dưới đây).

Những số liệu trên đây cho thấy: Xét về kết quả tỷ lệ động viên thu NSNN so với GDP thì trong giai đoạn 2021 - 2025, chúng ta đã hoàn thành và vượt chỉ tiêu đã đề ra trong Chiến lược thuế 2030, và như vậy vấn đề được đặt ra ở đây là: Trong bối cảnh mới, chính sách thuế cần những đổi mới gì để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số?

Bối cảnh mới và yêu cầu mới đối với chính sách thuế

Những tác động của chính sách thuế không chỉ là công cụ huy động nguồn thu cho NSNN mà còn là một bộ phận quan trọng của chính sách phát triển. Thông qua việc tác động đến tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, đổi mới công nghệ và quyết định phân bổ nguồn lực của các chủ thể kinh tế, chính sách thuế có thể góp phần hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn, khuyến khích mở rộng năng lực sản xuất và nâng cao năng suất trong trung và dài hạn.

Tuy nhiên, các biện pháp miễn, giảm hoặc ưu đãi thuế chỉ thực sự hiệu quả khi được thiết kế đúng đối tượng, có thời hạn, hạn chế méo mó trong phân bổ nguồn lực và được đánh giá đầy đủ về chi phí ngân sách cũng như kết quả kinh tế – xã hội.

Để duy trì tăng trưởng nhanh và tiến tới mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao, Việt Nam cần từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào gia tăng vốn, lao động chi phí thấp và hoạt động gia công, lắp ráp sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, kỹ năng lao động, công nghệ, khu vực kinh tế tư nhân và khả năng tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về con đường hướng tới nền kinh tế thu nhập cao nhấn mạnh vai trò trung tâm của tăng năng suất, đầu tư, phát triển khu vực tư nhân, nâng cao kỹ năng, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa thể chế và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với chuỗi giá trị toàn cầu (World Bank, 2025).

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy nguồn thu và định hướng cải cách thuế có mối quan hệ chặt chẽ với các điều kiện kinh tế vĩ mô, bao gồm tăng trưởng, lạm phát, năng suất, đầu tư, thị trường lao động và nợ công. Do đó, chính sách thuế hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao cần đồng thời đáp ứng ba yêu cầu: tạo động lực cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và mở rộng sản xuất; bảo đảm công bằng, minh bạch và trung lập tương đối giữa các chủ thể kinh tế; và duy trì nguồn thu đủ vững chắc để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển, an sinh xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô (OECD, 2025b). Dưới giác độ nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh mới cần xem xét các yêu cầu sau đây:

Thứ nhất, chính sách thuế phải được hoạch định trong điều kiện triển vọng tăng trưởng tích cực nhưng mức độ bất định bên ngoài còn lớn và dư địa điều hành vĩ mô không phải là vô hạn. Các dự báo quốc tế được công bố trong năm 2026 có sự khác biệt nhất định, nhưng đều thấp hơn đáng kể so với kịch bản tăng trưởng trong nước. Trong bản cập nhật World Economic Outlook tháng 7/2026, IMF nâng dự báo tăng trưởng GDP thực của Việt Nam năm 2026 thêm 0,4 điểm phần trăm, lên 7,5%, chủ yếu nhờ xuất khẩu các sản phẩm công nghệ tốt hơn dự kiến và cầu trong nước duy trì tương đối vững (International Monetary Fund, 2026). ADB dự báo kinh tế Việt Nam tăng 7,2% năm 2026 và 7,0% năm 2027, đồng thời lưu ý những rủi ro xuất phát từ bất ổn kinh tế toàn cầu và môi trường thương mại bên ngoài (Asian Development Bank, 2026).

Trong khi đó, OECD dự báo tăng trưởng lần lượt đạt 6,5% và 6,2% trong hai năm 2026-2027, trên cơ sở xem xét tác động của xung đột tại Trung Đông, giá năng lượng, sự thay đổi trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ và triển vọng cầu thế giới (OECD, 2026d). Khoảng cách giữa các dự báo này cho thấy triển vọng kinh tế còn phụ thuộc lớn vào diễn biến thương mại, năng lượng, công nghệ và địa chính trị. Vì vậy, chính sách thuế cần có khả năng thích ứng theo kịch bản, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và đầu tư công; các biện pháp hỗ trợ ngắn hạn phải có trọng tâm, tránh chuyển thành những cam kết giảm thu thường xuyên khi chưa xác định đầy đủ tác động đến lạm phát, cân đối ngân sách và ổn định vĩ mô.

Thứ hai, yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng làm thay đổi mục tiêu và phương thức sử dụng công cụ thuế. Báo cáo mới nhất của OECD về chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận định rằng mô hình thu hút đầu tư dựa nhiều vào sản xuất xuất khẩu có giá trị gia tăng thấp đang bộc lộ giới hạn trong việc duy trì tăng trưởng thu nhập và năng suất. Mặc dù khu vực FDI đóng vai trò quan trọng đối với xuất khẩu, công nghiệp và việc làm, tuy nhiên, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, phát triển kỹ năng và tạo giá trị tại chỗ cần phải được cải thiện.

Giai đoạn phát triển tiếp theo vì vậy phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng đầu tư, khả năng hấp thụ công nghệ và sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các khâu có giá trị gia tăng cao (OECD, 2026c). Yêu cầu này phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW, trong đó phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là đột phá quan trọng hàng đầu; đồng thời yêu cầu sửa đổi đồng bộ các chính sách về đầu tư, ngân sách, tài sản công, sở hữu trí tuệ và thuế để tháo gỡ rào cản, huy động nguồn lực và khuyến khích hoạt động đổi mới sáng tạo (Bộ Chính trị, 2024). Trong bối cảnh đó, chính sách thuế không nên chủ yếu tạo lợi thế bằng mức thuế suất thấp hoặc miễn, giảm thuế dựa trên địa bàn và quy mô vốn đăng ký. Trọng tâm cần chuyển dần sang khuyến khích những hoạt động, lĩnh vực có thể tạo ra năng suất và hiệu ứng lan tỏa, như nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực, chuyển đổi số, phát triển nhà cung cấp trong nước và tăng cường liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp.

Thứ ba, kết quả thu ngân sách thuận lợi trong ngắn hạn không làm giảm yêu cầu bảo đảm tính bền vững tài khóa và kỷ luật trong thiết kế ưu đãi thuế. Trong sáu tháng đầu năm 2026, tổng thu NSNN đạt 1.568,2 nghìn tỷ đồng, bằng 62% dự toán năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước (Hạnh Nguyễn, 2026); Số thu do cơ quan thuế quản lý ước đạt trên 1.382.330 tỷ đồng, bằng 61,6% dự toán pháp lệnh và tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa đạt trên 1.351.350 tỷ đồng; khu vực sản xuất, kinh doanh tiếp tục là nguồn đóng góp chủ yếu (Anh Minh, 2026). Tuy nhiên, kết quả thu vượt tiến độ tại một thời điểm không đồng nghĩa toàn bộ phần tăng thu có tính ổn định hoặc có thể được sử dụng để tài trợ cho các chính sách miễn, giảm thuế kéo dài. Khi đánh giá dư địa chính sách, cần tách biệt phần tăng thu xuất phát từ mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh với ảnh hưởng của giá cả, thời điểm kê khai, gia hạn nghĩa vụ thuế, các khoản thu không thường xuyên (như thu từ đất đai) và những khoản tăng thu do thay đổi trong quản lý thu.

Đối với ưu đãi thuế, OECD khuyến nghị phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng, chi phí ngân sách và kết quả dự kiến; áp dụng thời hạn kết thúc hoặc điều khoản hết hiệu lực, đồng thời tổ chức đánh giá trước và sau khi thực hiện. Điều khoản hết hiệu lực chỉ phát huy tác dụng khi việc gia hạn được đặt trên cơ sở đánh giá minh bạch, thay vì được thực hiện tự động hoặc lặp lại mà chưa chứng minh hiệu quả (OECD, 2026a). Do đó, yêu cầu mới đối với chính sách thuế không chỉ là lựa chọn mức miễn, giảm phù hợp mà còn phải hướng vào đúng đối tượng thụ hưởng, lượng hóa khoản thu ngân sách bị giảm, công khai kết quả thực hiện và có cơ chế dừng hoặc điều chỉnh những chính sách không tạo ra lợi ích tương xứng.

Thứ tư, số hóa quản lý thuế đang chuyển từ việc điện tử hóa thủ tục sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu, qua đó đặt ra đồng thời yêu cầu về hiệu quả quản lý, thuận lợi tuân thủ và bảo vệ thông tin. Nghị định số 254/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, vừa kế thừa quy định đã thực hiện tốt trong 5 năm qua, vừa tạo khuôn khổ pháp lý mới về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử theo Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 (Chính phủ, 2026d). Theo quy định tại Điều 6 của Nghị định, bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT) đối với: Tổ chức kinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã), tổ chức khác; Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu năm trên mức ngưỡng miễn thuế (01 tỷ đồng) bắt buộc áp dụng HĐĐT khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối, chuyển dữ liệu về cơ quan thuế. Hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm dưới mức ngưỡng 01 tỷ đồng, nếu đáp ứng điều kiện về giao dịch điện tử, hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm kế toán, phần mềm lập hóa đơn, truyền dữ liệu ,… thì được quyền đăng ký sử dụng và được khuyến khích áp dụng HĐĐT.

Sự mở rộng này cho phép cơ quan thuế đối chiếu dữ liệu và phân tích rủi ro kịp thời hơn, nhưng cũng đòi hỏi phải chuẩn hóa chất lượng dữ liệu, xác định rõ quyền truy cập, mục đích khai thác và trách nhiệm bảo mật. Đặc biệt, từ ngày 01/01/2026, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 đã có hiệu lực, tạo thêm yêu cầu pháp lý đối với hoạt động thu thập, xử lý, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu cá nhân (Quốc hội, 2025a). Vì vậy, hiện đại hóa quản lý thuế phải được triển khai theo hướng vừa tăng khả năng phát hiện rủi ro và chống thất thu, vừa giảm số lần kê khai, hạn chế yêu cầu cung cấp lại dữ liệu, hỗ trợ người nộp thuế và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin.

Tóm lại, bối cảnh mới đặt ra bốn yêu cầu xuyên suốt đối với chính sách thuế cần được xem xét là: có khả năng điều chỉnh linh hoạt trước các cú sốc bên ngoài; định hướng nguồn lực vào năng suất, công nghệ và chất lượng đầu tư; kiểm soát chặt chi phí của các biện pháp miễn, giảm và ưu đãi thuế; đồng thời xây dựng quản lý thuế dựa trên dữ liệu nhưng không làm gia tăng bất hợp lý chi phí tuân thủ hoặc rủi ro đối với thông tin của người nộp thuế. Đây là cơ sở để chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ mang tính ngắn hạn và diện rộng sang một hệ thống chính sách thuế có mục tiêu, có khả năng đo lường kết quả và phù hợp hơn với yêu cầu phát triển trong giai đoạn 2026-2030.

Một số đề xuất định hướng đổi mới chính sách thuế

Định hướng đổi mới trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung vào cách thức tổ chức thực hiện, cơ chế tiếp cận chính sách và hệ thống chỉ tiêu đánh giá. Trọng tâm không phải là ban hành thêm nhiều ưu đãi, mà là nâng cao hiệu quả của từng công cụ thuế, bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng, tạo ra hoạt động kinh tế tăng thêm và có thể điều chỉnh kịp thời khi mục tiêu hoặc điều kiện kinh tế thay đổi.

Điều hành các biện pháp hỗ trợ ngắn hạn theo chỉ tiêu kết quả và khả năng hấp thụ của nền kinh tế

Trong năm 2026, chính sách giảm 2 điểm phần trăm thuế suất thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện áp dụng tiếp tục có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2026 theo Nghị quyết số 204/2025/QH15 và Nghị định số 174/2025/NĐ-CP (Quốc hội, 2025d; Chính phủ, 2025a). Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 245/2026/NĐ-CP ngày 27/6/2026 về gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN và tiền thuê đất trong năm 2026. So với giảm thuế suất, gia hạn thời hạn nộp thuế không làm giảm trực tiếp nghĩa vụ thuế danh nghĩa nhưng có thể hỗ trợ thanh khoản trong thời gian doanh nghiệp gặp khó khăn về dòng tiền (Chính phủ, 2026b). Hai công cụ này vì vậy cần được theo dõi riêng, tránh đánh đồng tác động hỗ trợ sức mua với tác động hỗ trợ vốn lưu động.

Đối với chính sách giảm thuế GTGT, cần xây dựng cơ chế đánh giá định kỳ theo nhóm hàng hóa, dịch vụ và nhóm đối tượng thụ hưởng. Các chỉ tiêu tối thiểu nên bao gồm mức độ chuyển phần thuế được giảm vào giá bán; biến động lượng tiêu dùng; doanh thu, việc làm và dòng tiền của doanh nghiệp; phân phối lợi ích giữa người tiêu dùng và người bán; cùng số thu ngân sách giảm tương ứng. Chỉ khi xác định được phần lợi ích thực sự chuyển đến người tiêu dùng và hoạt động kinh tế phát sinh thêm mới có thể đánh giá đầy đủ hiệu quả của chính sách.

Đối với chính sách gia hạn nghĩa vụ thuế, cần tập trung vào các ngành, doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất nhưng đang gặp khó khăn thanh khoản tạm thời; hạn chế để chính sách trở thành biện pháp trì hoãn nghĩa vụ đối với những chủ thể có rủi ro mất khả năng thanh toán hoặc tuân thủ thấp. Sau năm 2026, việc tiếp tục, thu hẹp hoặc chấm dứt các biện pháp hỗ trợ cần căn cứ vào tiêu chí đã công bố trước, thay vì kéo dài đồng loạt. Cách tiếp cận này giúp phân biệt rõ chính sách chống suy giảm ngắn hạn với chính sách phát triển năng lực sản xuất trong dài hạn.

Ngoài miễn, giảm và gia hạn thuế, cần coi chất lượng thực thi là một công cụ hỗ trợ doanh nghiệp. Việc công khai thời hạn giải quyết hồ sơ, rút ngắn thời gian hoàn thuế đối với hồ sơ đủ điều kiện, hạn chế yêu cầu bổ sung lặp lại, thống nhất cách áp dụng giữa các cơ quan thuế và cung cấp hướng dẫn trước khi chính sách có hiệu lực có thể tạo ra tác động tích cực đến dòng tiền và khả năng lập kế hoạch của doanh nghiệp mà không nhất thiết làm giảm số thu ngân sách.

Thiết kế thuế TNDN theo hướng tạo "hành lang lớn lên" cho doanh nghiệp

Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 áp dụng thuế suất phổ thông 20%; mức 15% đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 3 tỷ đồng; và mức 17% đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm trên 3 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng (Quốc hội, 2025b). Luật số 09/2026/QH16 bổ sung quy định miễn thuế TNDN đối với doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam có tổng doanh thu năm từ mức do Chính phủ quy định trở xuống. Trên cơ sở đó, Nghị định số 141/2026/NĐ-CP quy định ngưỡng tổng doanh thu năm không quá 1 tỷ đồng và các điều kiện áp dụng cơ chế miễn thuế (Quốc hội, 2026a; Chính phủ, 2026a). Hệ thống thuế suất và ngưỡng miễn thuế này tạo điều kiện tích lũy cho doanh nghiệp quy mô nhỏ, nhưng đồng thời làm phát sinh yêu cầu kiểm soát hành vi chia tách hoạt động, chuyển doanh thu hoặc duy trì quy mô dưới ngưỡng để tiếp tục hưởng chính sách.

Do đó, cần thiết kế một "hành lang lớn lên" thay vì chỉ xác định các ngưỡng thuế suất tách biệt. Khi doanh nghiệp vượt ngưỡng doanh thu, cơ chế chuyển tiếp có thể được nghiên cứu theo hướng giảm dần lợi ích thuế trong một khoảng thời gian hợp lý, thay vì làm nghĩa vụ thuế thay đổi đột ngột. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế hợp nhất doanh thu của các doanh nghiệp có quan hệ liên kết hoặc cùng chịu sự kiểm soát của một chủ sở hữu trong những trường hợp có dấu hiệu chia tách nhân tạo; tăng đối chiếu hóa đơn, tài khoản thanh toán, lao động và địa điểm kinh doanh để xác định đúng quy mô hoạt động thực tế.

Đối với hoạt động đầu tư nâng cao năng suất, cơ chế ưu đãi cần dựa nhiều hơn vào phần chi phí hoặc hoạt động tăng thêm. Nghị quyết số 198/2025/QH15 cho phép doanh nghiệp trích tối đa 20% thu nhập tính thuế để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời cho phép tính chi phí nghiên cứu và phát triển vào chi phí được trừ đến 200% chi phí thực tế theo quy định của Chính phủ (Quốc hội, 2025c). Khi hướng dẫn thực hiện, cần xác định rõ khái niệm hoạt động nghiên cứu và phát triển, chi phí nhân công và tài sản đủ điều kiện, nguyên tắc phân bổ chi phí dùng chung, cơ chế xử lý dự án thất bại về mặt thương mại và quy định tránh tính trùng một khoản chi vào nhiều chính sách hỗ trợ.

Hiệu quả của chính sách không nên chỉ được đo bằng số tiền doanh nghiệp trích lập quỹ hoặc số chi phí đã kê khai. Hệ thống đánh giá cần theo dõi phần chi nghiên cứu và phát triển tăng thêm so với thời kỳ trước, số sản phẩm hoặc quy trình mới, doanh thu từ sản phẩm đổi mới, mức tăng năng suất lao động, số lao động được đào tạo lại và khả năng hình thành tài sản trí tuệ. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên ban hành danh mục hồ sơ tối giản, mẫu thuyết minh tiêu chuẩn và cơ chế tư vấn trước để doanh nghiệp có thể sử dụng chính sách mà không phải phát sinh chi phí hành chính vượt quá lợi ích thuế nhận được.

Xây dựng gói chuyển đổi toàn diện cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ

Từ ngày 01/01/2026, phương pháp khoán thuế không còn được áp dụng đối với hộ, cá nhân kinh doanh theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 (Quốc hội, 2025c). Nghị định số 68/2026/NĐ-CP và Nghị định số 141/2026/NĐ-CP đã hình thành khuôn khổ mới về chính sách thuế và quản lý thuế đối với khu vực này, trong đó mức doanh thu năm không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT được quy định là 1 tỷ đồng (Chính phủ, 2026e; Chính phủ, 2026a). Việc thay đổi phương thức quản lý là cần thiết để tăng minh bạch và công bằng, nhưng không nên được thực hiện như một sự thay đổi đơn thuần từ "thuế khoán" sang "kê khai", mà cần gắn với việc tổ chức lại toàn bộ quy trình tuân thủ.

Trước hết, cần phân nhóm hộ kinh doanh theo quy mô, ngành nghề, mức độ sử dụng hóa đơn và năng lực số. Nhóm có doanh thu nhỏ, giao dịch đơn giản nên được áp dụng chế độ sổ sách tối giản, biểu mẫu dễ sử dụng và tần suất khai phù hợp. Nhóm có quy mô lớn, nhiều lao động, nhiều địa điểm hoặc giao dịch qua nền tảng cần được hỗ trợ chuyển sang hệ thống kế toán và hóa đơn đầy đủ hơn. Đối với nhóm mới vượt ngưỡng 1 tỷ đồng, nên có giai đoạn hướng dẫn và cảnh báo sai sót trước khi áp dụng đầy đủ chế tài, trừ trường hợp có hành vi che giấu doanh thu hoặc gian lận có chủ ý.

Thứ hai, cần triển khai thực chất chính sách cung cấp miễn phí nền tảng số và phần mềm kế toán dùng chung cho doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh theo Nghị quyết số 198/2025/QH15. Phần mềm cần được tích hợp với hóa đơn điện tử, tài khoản thuế, kê khai và nộp thuế; tự động tổng hợp doanh thu theo kỳ; cảnh báo khi doanh thu tiến gần hoặc vượt ngưỡng; đồng thời cho phép người nộp thuế kiểm tra, giải trình và sửa dữ liệu trước khi gửi cơ quan thuế. Chính sách hỗ trợ không nên chỉ dừng ở việc cấp phần mềm mà cần bao gồm đào tạo, đường dây tư vấn và hỗ trợ trực tiếp cho những người có năng lực số hạn chế.

Thứ ba, cần xây dựng quy trình một cửa cho hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp. Quy trình này nên đồng bộ đăng ký kinh doanh, mã số thuế, hóa đơn, tài khoản bảo hiểm, kế toán và việc chuyển tiếp hợp đồng, tài sản, nghĩa vụ thuế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập mới được hưởng cơ chế miễn thuế TNDN trong ba năm theo Nghị quyết số 198/2025/QH15; việc thực hiện chính sách cần đi kèm các biện pháp ngăn ngừa việc thành lập mới mang tính hình thức để lặp lại thời gian miễn thuế (Quốc hội, 2025c).

Mục tiêu của quá trình chuyển đổi cần được đo bằng tỷ lệ hộ kinh doanh duy trì hoạt động sau khi chuyển đổi, mức giảm thời gian và chi phí kê khai, tỷ lệ sử dụng hóa đơn đúng quy định, khả năng tiếp cận tín dụng và sự gia tăng giao dịch chính thức; không nên chỉ đánh giá bằng số lượng hộ đăng ký thành doanh nghiệp.

Quản trị chi tiêu thuế và chuyển trọng tâm sang ưu đãi dựa trên chi phí, kết quả thực chất

Về chuyên môn, cần phân biệt giữa ưu đãi dựa trên thu nhập, như miễn thuế hoặc áp dụng thuế suất thấp; và ưu đãi dựa trên chi phí, như khấu hao nhanh, khấu trừ bổ sung hoặc tín dụng thuế đối với khoản đầu tư đủ điều kiện. OECD nhận định các ưu đãi dựa trên chi phí thường tác động trực tiếp hơn đến chi phí vốn và có khả năng khuyến khích phần đầu tư tăng thêm tốt hơn so với ưu đãi chỉ áp dụng sau khi doanh nghiệp đã phát sinh lợi nhuận (OECD, 2026a).

Vì vậy, Việt Nam cần xây dựng hệ thống quản trị chi tiêu thuế thống nhất. Mỗi chính sách ưu đãi mới cần có hồ sơ đánh giá trước khi ban hành, trong đó xác định vấn đề thị trường cần xử lý, đối tượng thụ hưởng, số thu ngân sách dự kiến giảm, hoạt động tăng thêm kỳ vọng, tác động phân phối, chi phí quản lý và công cụ thay thế ngoài thuế. Sau khi thực hiện, cần công bố định kỳ số doanh nghiệp hưởng ưu đãi, giá trị lợi ích thuế, kết quả đầu tư, việc làm, năng suất và các hiệu ứng lan tỏa. OECD nhấn mạnh rằng giám sát và đánh giá phải bao quát cả lợi ích trực tiếp, chi phí ngân sách, tác động gián tiếp và khả năng hoạt động được ưu đãi vẫn xảy ra ngay cả khi không có chính sách (OECD, 2026a).

Mỗi ưu đãi nên có thời hạn áp dụng và thời điểm đánh giá bắt buộc. Việc gia hạn chỉ được thực hiện khi cơ quan chủ trì chứng minh chính sách tiếp tục cần thiết và tạo ra lợi ích lớn hơn chi phí. Những tiêu chí như giá trị vốn đăng ký hoặc cam kết ban đầu cần được thay thế hoặc bổ sung bằng kết quả có thể kiểm chứng, chẳng hạn phần vốn thực hiện, chi nghiên cứu và phát triển, số lao động được đào tạo, năng suất, chuyển giao công nghệ, mức giảm tiêu hao năng lượng và năng lực của nhà cung cấp tham gia chuỗi. Tuy nhiên, ưu đãi không nên gắn với yêu cầu bắt buộc sử dụng hàng hóa trong nước hoặc cân đối nhập khẩu, vì các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại phải tuân thủ các nghĩa vụ theo Hiệp định TRIMs của WTO (World Trade Organization, n.d.).

Đối với các tập đoàn đa quốc gia thuộc phạm vi thuế tối thiểu toàn cầu, Nghị định số 236/2025/NĐ-CP đã quy định chi tiết việc áp dụng thuế TNDN bổ sung theo Nghị quyết số 107/2023/QH15, có hiệu lực từ ngày 15/10/2025 và áp dụng từ năm tài chính 2024 (Chính phủ, 2025b). Trước khi ban hành hoặc gia hạn ưu đãi cho dự án quy mô lớn, cần mô phỏng ảnh hưởng của ưu đãi đến thuế suất hiệu dụng và nghĩa vụ thuế bổ sung, tránh trường hợp ưu đãi làm giảm số thu tại Việt Nam nhưng đồng thời có thể làm phát sinh nghĩa vụ thuế bổ sung tại một quốc gia khác.

Các hướng dẫn OECD cập nhật năm 2026 tiếp tục làm rõ cách xử lý một số ưu đãi gắn với hoạt động thực chất trong khuôn khổ thuế tối thiểu toàn cầu. Điều này cho thấy dư địa chính sách chưa hoàn toàn bị loại bỏ, nhưng việc lựa chọn công cụ ngày càng đòi hỏi phân tích kỹ cấu trúc ưu đãi, đối tượng áp dụng, tài sản hữu hình, chi phí lao động và khả năng tương thích với các quy tắc GloBE (OECD, 2026b). Do đó, ưu đãi thuế cần được phối hợp với hỗ trợ hạ tầng, đào tạo, nghiên cứu, phát triển nhà cung cấp và cải cách thủ tục đầu tư, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào miễn thuế kéo dài hoặc thuế suất danh nghĩa thấp.

Trong bối cảnh áp dụng quy chế thuế tối thiểu toàn cầu như nêu trên, đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận thực trạng áp dụng quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có quan hệ liên kết. Việt Nam ta có vận dụng áp dụng đối với cả doanh nghiệp trong nước (do chính sách ưu đãi thuế TNDN theo vùng, miền, lĩnh vực nên cần áp dụng để tránh việc chuyển giá, chuyển lợi nhuận giữa các doanh nghiệp trong cùng hệ sinh thái liên kết có thể né thuế qua giao dịch). Tuy nhiên, việc hạn chế tính vào chi phí phần lãi vay thực tế vượt mức 30% EBITDA (loại trừ khỏi chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế), trong thực tế thi hành tại cơ sở, địa phương đang được mở rộng áp dụng đối với các doanh nghiệp có mối quan hệ liên kết nhưng không có giao dịch vay vốn lẫn nhau, có không giao dịch mua bán, không cung cấp, không cho vay/mượn vật tư, hàng hóa đang gây nên 2 hệ lụy: Một là, giảm việc huy động vốn vay theo kênh pháp luật dân sự để huy động vốn của người dân vào sản xuất kinh doanh; Hai là tăng thủ tục, tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, khả năng phát sinh chi phí không chính thức là điều khó tránh khỏi.

Phát triển quản lý thuế số theo nguyên tắc thuận lợi mặc định và kiểm soát theo rủi ro

Khung pháp lý về quản lý thuế đã được cập nhật đáng kể từ ngày 01/7/2026. Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15; Nghị định số 254/2026/NĐ-CP quy định riêng về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử (Chính phủ, 2026c; Chính phủ, 2026d). Đây là cơ sở để chuyển từ việc số hóa từng thủ tục riêng lẻ sang thiết kế lại toàn bộ quá trình đăng ký, kê khai, nộp, hoàn và kiểm tra thuế trên nền tảng dữ liệu.

Định hướng thứ nhất là thực hiện nguyên tắc "cung cấp dữ liệu một lần". Những thông tin cơ quan nhà nước đã thu thập hợp pháp từ đăng ký kinh doanh, hóa đơn, hải quan hoặc các hệ thống hành chính khác cần được tái sử dụng đúng mục đích và đúng thẩm quyền, thay vì yêu cầu người nộp thuế kê khai hoặc nộp lại. Trên cơ sở đó, cơ quan thuế có thể phát triển tờ khai được điền sẵn, tài khoản thuế hợp nhất, cảnh báo sai lệch trước khi nộp và công cụ dự tính nghĩa vụ thuế. Người nộp thuế phải có quyền kiểm tra, sửa đổi và giải trình dữ liệu trước khi dữ liệu tự động được sử dụng làm căn cứ xử lý.

Định hướng thứ hai là phân loại rủi ro phải đi cùng phân loại dịch vụ. Doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt, dữ liệu nhất quán và giao dịch minh bạch cần được hưởng quy trình đơn giản hơn, thời gian xử lý hồ sơ ổn định và tần suất kiểm tra phù hợp. Đối với hồ sơ có rủi ro, hệ thống cần xác định rõ yếu tố cảnh báo, lựa chọn phạm vi kiểm tra tương xứng và duy trì khâu xem xét của con người đối với quyết định có ảnh hưởng đáng kể đến quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế. OECD ghi nhận các cơ quan thuế ngày càng sử dụng kiểm tra điện tử, đối chiếu và xác thực tự động để quản lý rủi ro tuân thủ, nhưng đồng thời nhấn mạnh vai trò của dịch vụ hỗ trợ trong việc giúp người nộp thuế hiểu, khai và nộp đúng nghĩa vụ (OECD, 2025a).

Định hướng thứ ba là công khai tiêu chuẩn phục vụ. Cơ quan thuế cần công bố và theo dõi các chỉ tiêu về thời gian xử lý hoàn thuế, thời gian phản hồi yêu cầu giải đáp, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, tỷ lệ khiếu nại được chấp nhận, thời gian gián đoạn hệ thống và mức độ hài lòng của người nộp thuế. Dữ liệu phục vụ quản lý nội bộ cũng cần được sử dụng để phát hiện những thủ tục thường xuyên gây sai sót hoặc bị áp dụng không thống nhất, từ đó điều chỉnh biểu mẫu, hướng dẫn và quy trình nghiệp vụ.

Định hướng thứ tư là xây dựng cơ chế quản trị dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Mọi hoạt động kết nối, chia sẻ và phân tích dữ liệu cần xác định rõ căn cứ pháp lý, mục đích sử dụng, phạm vi truy cập, thời hạn lưu trữ và trách nhiệm khi để xảy ra lộ lọt hoặc sử dụng sai mục đích. Các mô hình chấm điểm rủi ro phải được kiểm định định kỳ để hạn chế sai lệch, tránh tạo ra tình trạng một nhóm ngành, địa bàn hoặc loại hình doanh nghiệp liên tục bị lựa chọn kiểm tra chỉ do đặc điểm dữ liệu lịch sử. Các công thức tính toán ra các chỉ tiêu, chỉ số để xác định mức độ rủi ro phải bảo đảm tuân thủ nguyên tắc cùng nguồn dữ liệu, thống nhất dựa trên cơ sở kinh tế (ví dụ có doanh thu để áp thuế đầu ra thì phải có chứng từ hợp pháp về tồn kho và mua vào) để doanh nghiệp không bị trả thêm chi phí mà thực tế đang được xem như là một loại thuế - tạm gọi là "Thuế thời gian".

Như vậy, hiện đại hóa quản lý thuế không nên được đánh giá chủ yếu bằng số lượng dữ liệu thu thập hoặc số giao dịch điện tử được xử lý. Thước đo quan trọng hơn là mức giảm thời gian và chi phí tuân thủ, tỷ lệ nghĩa vụ được thực hiện đúng ngay từ lần đầu, mức độ xử lý rủi ro chính xác, khả năng bảo vệ dữ liệu và niềm tin của người nộp thuế đối với hệ thống.

Một số kiến nghị

Để các định hướng đổi mới chính sách thuế được triển khai thực chất, cần xây dựng một cơ chế thực hiện thống nhất, có thứ tự ưu tiên, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan và gắn với hệ thống chỉ tiêu đánh giá cụ thể. Trọng tâm của giai đoạn tới không chỉ là lựa chọn chính sách nào được ban hành, mà còn phải bảo đảm chính sách được thực hiện nhất quán, kiểm soát được chi phí ngân sách và tạo ra kết quả phát triển có thể kiểm chứng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất bảy nhóm kiến nghị sau.

Thứ nhất, xây dựng chương trình hành động về đổi mới chính sách thuế giai đoạn 2026-2030. Chương trình cần xác định rõ các mục tiêu ưu tiên, tiến độ thực hiện, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và nguồn lực cần thiết cho từng nhóm nhiệm vụ. Các giải pháp có thể được phân kỳ thành ba nhóm: nhiệm vụ cần triển khai ngay để xử lý những khó khăn phát sinh trong năm 2026; nhiệm vụ hoàn thiện thể chế trong giai đoạn 2027-2028; và nhiệm vụ cải cách cơ cấu hệ thống thuế đến năm 2030. Việc phân kỳ giúp tránh tình trạng ban hành đồng thời quá nhiều chính sách trong khi năng lực tổ chức thực hiện, hệ thống công nghệ và nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ.

Thứ hai, bảo đảm tính thống nhất, liên thông giữa các văn bản hướng dẫn luật để bảo đảm rằng quy định của luật được dẫn vào đời sống thực tế, tránh 2 khả năng xảy ra trên thực tế hoặc là "chồng chéo, trùng lắp" hoặc là "bỏ trống trận địa" gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý, thực thi và khó khăn cho cả doanh nghiệp và người dân. Chẳng hạn, các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Thuế TNDN, Luật Thuế TNCN quy định nhiều nội dung ưu đãi, nhiều đối tượng ưu đãi dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, ưu đãi cho nguồn nhân lực tham gia vào khoa học công nghệ, chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ cao … Tuy nhiên, với kỹ thuật quy định dẫn chiếu "thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về chuyển đổi số", khi chiếu sang các văn bản chuyên ngành này thì không biết thực hiện như thế nào ! Quy định áp thuế TTĐB từ năm 2027 đối với nước giải khát "Nước giải khát theo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) có hàm lượng đường trên 5g/100mL" cũng cần phải được hướng dẫn cụ thể để thực hiện được.

Thứ ba, thiết lập cơ chế đánh giá bắt buộc đối với các chính sách làm giảm số thu hoặc làm chậm thời điểm thu ngân sách. Mỗi đề xuất miễn, giảm, gia hạn hoặc ưu đãi thuế cần kèm theo báo cáo đánh giá tác động, trong đó xác định rõ đối tượng thụ hưởng, mục tiêu cần đạt, số thu dự kiến giảm hoặc thời điểm thu dự kiến bị lùi, tác động phân phối và kết quả kinh tế – xã hội kỳ vọng. Sau khi chính sách được thực hiện, cơ quan chủ trì phải tổ chức đánh giá độc lập hoặc đánh giá liên ngành trên cơ sở dữ liệu thực tế. Kết quả đánh giá cần được công khai ở mức độ phù hợp và trở thành căn cứ bắt buộc khi xem xét gia hạn, sửa đổi hoặc chấm dứt chính sách. Cách tiếp cận này giúp hạn chế tình trạng ưu đãi tồn tại kéo dài nhưng không chứng minh được hiệu quả.

Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về chi tiêu thuế. Các khoản miễn, giảm, khấu trừ và thuế suất ưu đãi làm giảm số thu ngân sách so với chế độ thuế chuẩn; trong khi gia hạn thuế chủ yếu làm dịch chuyển thời điểm thu và có thể phát sinh chi phí tài chính đối với ngân sách. Vì vậy, dựa trên cơ sở thiết kế các chỉ tiêu phù hợp trong tờ khai thuế, cần thống kê đầy đủ giá trị chi tiêu thuế theo sắc thuế, ngành kinh tế, địa bàn, loại hình doanh nghiệp và mục tiêu chính sách; đồng thời theo dõi riêng quy mô nghĩa vụ thuế được gia hạn và thời gian gia hạn. Báo cáo chi tiêu thuế nên được lập định kỳ, trình cùng với dự toán NSNN và được sử dụng trong quá trình thảo luận, quyết định chính sách tài khóa. Việc công khai có hệ thống sẽ giúp cơ quan quản lý so sánh chi phí của ưu đãi thuế với chi ngân sách trực tiếp, từ đó lựa chọn công cụ hỗ trợ có hiệu quả cao hơn.

Thứ năm, tăng cường phối hợp giữa chính sách thuế với chính sách đầu tư, khoa học – công nghệ, lao động và phát triển doanh nghiệp. Một mục tiêu phát triển thường chịu tác động đồng thời của nhiều công cụ khác nhau. Chẳng hạn, khuyến khích đổi mới sáng tạo không chỉ phụ thuộc vào ưu đãi thuế mà còn liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận vốn, hạ tầng nghiên cứu và thủ tục nghiệm thu. Vì vậy, trước khi sử dụng công cụ thuế, cần xác định rõ điểm nghẽn thực sự nằm ở chi phí, thủ tục, vốn, nhân lực hay năng lực quản trị. Công cụ thuế chỉ nên được lựa chọn khi có khả năng xử lý trực tiếp nguyên nhân của vấn đề và không tạo ra chi phí quản lý lớn hơn lợi ích đạt được.

Thứ sáu, nâng cao năng lực thực thi và tính thống nhất trong áp dụng pháp luật thuế. Những thay đổi chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi người nộp thuế có thể hiểu đúng, tiếp cận thuận lợi và dự đoán được cách xử lý của cơ quan quản lý. Do đó, cần chuẩn hóa tài liệu hướng dẫn, quy trình nghiệp vụ và cách giải thích chính sách giữa các địa phương; tăng cường cơ chế giải đáp có giá trị tham khảo thống nhất; đồng thời đào tạo chuyên sâu cho công chức thuế về kinh tế số, giao dịch liên kết, tài sản vô hình, nghiên cứu và phát triển, thương mại điện tử và thuế quốc tế. Đối với các quy định mới, cần có thời gian chuẩn bị phù hợp, tài liệu hướng dẫn tình huống và kênh hỗ trợ riêng cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và người nộp thuế có năng lực số hạn chế.

Thứ bảy, xây dựng hệ thống giám sát cải cách thuế bằng các chỉ tiêu đầu ra và kết quả. Việc đánh giá không nên chỉ dựa vào số văn bản đã ban hành, số thủ tục được điện tử hóa hoặc số thu ngân sách tăng thêm. Cần theo dõi đồng thời các chỉ tiêu như thời gian và chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế; tỷ lệ hồ sơ được xử lý đúng hạn; tỷ lệ người nộp thuế thực hiện đúng ngay từ lần kê khai đầu tiên; số lượng tranh chấp và khiếu nại; mức độ sử dụng chính sách của doanh nghiệp nhỏ và vừa; giá trị đầu tư tăng thêm được tạo ra; mức độ cải thiện năng suất; và tỷ lệ rủi ro được phát hiện chính xác. Kết quả giám sát cần được công bố định kỳ và sử dụng để điều chỉnh quy trình, phân bổ nguồn lực cũng như xác định trách nhiệm giải trình của cơ quan thực hiện.

Nhìn chung, đổi mới chính sách thuế trong giai đoạn tăng trưởng cao cần được đặt trong một khuôn khổ quản trị chính sách chặt chẽ, thay vì chỉ tập trung vào nội dung của từng sắc thuế. Khi quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách được kết nối thành một chu trình thống nhất, các công cụ thuế mới có thể vừa tạo động lực cho sản xuất, đầu tư và đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm kỷ luật ngân sách, công bằng giữa các chủ thể và tính ổn định của môi trường kinh doanh.

(*) TS. Nguyễn Thị Hoa, Trường Đại học Tài chính-Marketing

Ông Nguyễn Văn Phụng, Nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp, Tổng cục thuế

  • Cùng chuyên mục
Đổi mới chính sách thuế hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới

Đổi mới chính sách thuế hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới

Định hướng đổi mới chính sách thuế trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung vào cách thức tổ chức thực hiện, cơ chế tiếp cận chính sách và hệ thống chỉ tiêu đánh giá. Trọng tâm không phải là ban hành thêm nhiều ưu đãi, mà là nâng cao hiệu quả của từng công cụ thuế.

Tài chính - 23/07/2026 07:00

Phát triển đồng bộ những mảnh ghép của thị trường vốn Việt Nam

Phát triển đồng bộ những mảnh ghép của thị trường vốn Việt Nam

Sau khi được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp và Việt Nam bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, yêu cầu xây dựng một thị trường vốn đủ sâu, minh bạch và hiệu quả trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Từ hạ tầng giao dịch, khuôn khổ pháp lý đến cơ cấu nhà đầu tư và chất lượng hàng hóa trên thị trường, nhiều "mảnh ghép" đang được đồng thời hoàn thiện nhằm đưa thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ lực của nền kinh tế.

Tài chính - 23/07/2026 07:00

Giải pháp phát triển bền vững thị trường vốn

Giải pháp phát triển bền vững thị trường vốn

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026–2030 đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, trong khi khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước và hệ thống ngân hàng đều có giới hạn. Trong bối cảnh đó, phát triển đồng bộ thị trường vốn theo hướng minh bạch, an toàn và bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm mở rộng kênh huy động vốn trung, dài hạn, giảm áp lực cho tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế.

Tài chính - 23/07/2026 06:40

Huy động nguồn lực cho tăng trưởng cao ở Việt Nam: Nghịch lý thời gian và năng lực tài trợ quốc gia

Huy động nguồn lực cho tăng trưởng cao ở Việt Nam: Nghịch lý thời gian và năng lực tài trợ quốc gia

Nghiên cứu cho thấy Việt Nam không thiếu nguồn lực và cũng không thiếu công cụ chính sách để hỗ trợ tăng trưởng. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở khả năng chuyển hóa các nguồn lực hiện có thành năng lực tài trợ cho đầu tư trung và dài hạn trong khoảng thời gian ngắn.

Tài chính - 23/07/2026 06:30

VN-Index giảm hơn 60 điểm, chuyên gia chỉ ra ba yếu tố khiến thị trường lao dốc

VN-Index giảm hơn 60 điểm, chuyên gia chỉ ra ba yếu tố khiến thị trường lao dốc

Phiên giao dịch 22/7 chứng kiến VN-Index giảm 3,58%, thanh khoản tăng vọt và sắc đỏ bao trùm thị trường. Chuyên gia DNSE cho rằng rủi ro bên ngoài gia tăng, dòng tiền suy yếu và niềm tin vào nhóm cổ phiếu cơ bản bị lung lay là những nguyên nhân chính khiến áp lực bán bùng phát.

Tài chính - 22/07/2026 16:14

Danh mục FVTPL vượt 5.500 tỷ, Chứng khoán TPS chủ yếu nắm giữ trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi

Danh mục FVTPL vượt 5.500 tỷ, Chứng khoán TPS chủ yếu nắm giữ trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi

Chứng khoán TPS ghi nhận lợi nhuận trở lại trong sau giai đoạn tái cơ cấu. Doanh nghiệp đẩy mạnh quy mô tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL), với danh mục chủ yếu là trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi.

Tài chính - 22/07/2026 14:13

Biến cố nhân sự không cản Nhiệt điện Hải Phòng vượt đích lợi nhuận

Biến cố nhân sự không cản Nhiệt điện Hải Phòng vượt đích lợi nhuận

Dù trải qua biến động nhân sự cấp cao, CTCP Nhiệt điện Hải Phòng vẫn duy trì đà tăng trưởng, khi lợi nhuận trước thuế vượt kế hoạch năm chỉ sau 6 tháng.

Tài chính - 22/07/2026 13:50

Cựu CEO Techcombank ứng cử Thành viên HĐQT Eximbank

Cựu CEO Techcombank ứng cử Thành viên HĐQT Eximbank

Cái tên đáng chú ý nhất tại danh sách ứng viên Thành viên HĐQT độc lập Eximbank nhiệm kỳ 2025-2030 là ông Nguyễn Lê Quốc Anh, cựu Tổng Giám đốc Techcombank.

Tài chính - 22/07/2026 10:25

Thị trường phân hóa, vì sao doanh thu cho vay margin của nhiều công ty chứng khoán vẫn tăng?

Thị trường phân hóa, vì sao doanh thu cho vay margin của nhiều công ty chứng khoán vẫn tăng?

Trong bối cảnh môi giới và tự doanh chịu ảnh hưởng do diễn biến thị trường, mảng cho vay ký quỹ (margin) lại trở thành điểm sáng trong mùa BCTC quý II/2026 của nhiều công ty chứng khoán.

Tài chính - 22/07/2026 07:08

Không chỉ cần thêm vốn, cần mở đúng đường dẫn vốn cho doanh nghiệp tư nhân

Không chỉ cần thêm vốn, cần mở đúng đường dẫn vốn cho doanh nghiệp tư nhân

Trong bối cảnh tăng trưởng có dấu hiệu phân hóa, yêu cầu cấp thiết không chỉ là vốn cho doanh nghiệp tư nhân mà còn là thiết kế được những “đường dẫn” để vốn đi vào sản xuất, công nghệ, đổi mới sáng tạo, liên kết chuỗi và những doanh nghiệp có khả năng tạo tác động lan tỏa như định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới.

Tài chính - 22/07/2026 07:00

Khơi thông mọi nguồn lực cho tăng trưởng

Khơi thông mọi nguồn lực cho tăng trưởng

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn tới đòi hỏi Việt Nam phải huy động được nguồn lực đầu tư rất lớn. Có thể thấy bài toán nguồn lực cho tăng trưởng không thể được giải quyết bằng một công cụ hay một kênh dẫn vốn riêng lẻ. Việt Nam cần một chiến lược tài chính quốc gia đồng bộ.

Tài chính - 22/07/2026 07:00

Petrovietnam điều động lãnh đạo PVGas, cổ phiếu GAS về đáy 6 tháng

Petrovietnam điều động lãnh đạo PVGas, cổ phiếu GAS về đáy 6 tháng

Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) vừa ban hành nghị quyết về công tác cán bộ, điều động và giới thiệu lãnh đạo tại ba đơn vị thành viên gồm PVGas, PVTrans và PVCFC. Động thái này diễn ra chưa đầy hai tháng sau khi PVGas kiện toàn HĐQT và Ban Kiểm soát tại ĐHĐCĐ thường niên 2026.

Tài chính - 21/07/2026 18:17

Hạ tầng Crystal phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu, lãi suất 12,5%

Hạ tầng Crystal phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu, lãi suất 12,5%

Công ty TNHH Xây dựng Hạ tầng Crystal vừa huy động thành công 2.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 5 năm, với lãi suất cố định 12,5%/năm. Theo Saigon Ratings, doanh nghiệp này hiện đầu tư vào nhiều dự án bất động sản quy mô lớn, trong đó có Sunshine Legend City tại Hưng Yên.

Tài chính - 21/07/2026 17:13

Nâng cấp SCIC thành quỹ đầu tư chuyên nghiệp để gỡ điểm nghẽn tái cơ cấu DNNN

Nâng cấp SCIC thành quỹ đầu tư chuyên nghiệp để gỡ điểm nghẽn tái cơ cấu DNNN

Sau gần một thập kỷ tái cơ cấu với tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn còn chậm, nhiều chuyên gia cho rằng cần sớm nâng cấp Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) thành quỹ đầu tư chuyên nghiệp, qua đó tạo đầu mối quản trị vốn nhà nước và tháo gỡ những điểm nghẽn trong quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước.

Tài chính - 21/07/2026 14:47

CEO Chứng khoán Kafi: Doanh nghiệp FDI cần thấy lợi ích rõ ràng khi lên sàn

CEO Chứng khoán Kafi: Doanh nghiệp FDI cần thấy lợi ích rõ ràng khi lên sàn

Ông Trịnh Thanh Cần cho rằng để thu hút nhóm doanh nghiệp FDI này cần bảo đảm quy trình chuyển đổi rõ ràng, giảm rủi ro pháp lý, có cơ chế linh hoạt hơn về tỷ lệ sở hữu nước ngoài ở các ngành không nhạy cảm, đồng thời giúp doanh nghiệp nhìn thấy những lợi ích cụ thể như huy động vốn bằng VND, nâng cao thương hiệu và mở rộng quan hệ với đối tác trong nước.

Tài chính - 21/07/2026 14:34

Giữa áp lực thanh khoản, PNJ đổi phương án thanh toán khi mua lại trang sức

Giữa áp lực thanh khoản, PNJ đổi phương án thanh toán khi mua lại trang sức

Áp lực từ làn sóng bán lại kim cương và những ảnh hưởng từ vụ việc tại P-Lab, lãnh đạo PNJ khẳng định ưu tiên lớn nhất hiện nay là bảo vệ thanh khoản và duy trì hoạt động ổn định.

Tài chính - 21/07/2026 14:02